Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Từ “4 tốt” đến “4 không”, sự dối trá không còn giới hạn

Khi ông Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì đến Việt Nam, có lẽ người lạc quan nhất cũng không hi vọng Trung Quốc sẽ có cách hành xử đúng lý, đúng tình, tôn trọng luật pháp quốc tế mà cụ thể là rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam.


(Minh họa: Ngọc Diệp)

(Minh họa: Ngọc Diệp)
Song cũng không ai có thể ngờ sau đó, báo chí Trung Quốc đã tráo trở xuyên tạc về thông tin cuộc gặp của hai bên mà điển hình là Tân Hoa xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu “4 không” phi lý đối với Việt Nam.
Đó là:
Một là không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông).
Hai là không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tựnhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa).
Ba là không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải.
Bốn là không được phá bỏ mối quan hệ Việt-Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ.
Đây là sự xuyên tạc trắng trợn bởi thứ nhất, không ai đánh giá thấp “năng lực và quyết tâm” của Trung Quốc, song không phải là để“bảo vệ chủ quyền” các đảo ở Biển Đông mà là “tranh cướp chủ quyền” vì mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định Biển Đông chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc.
Thứ hai, Việt Nam không “tự nhận tư liệu lịch sử”. Chủquyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật khách quan của lịch sử và dư luận quốc tế cũng không “ngây thơ” đến mức “hiểu lầm” sự thật này.
Thứ ba, Việt Nam không “lôi kéo” quốc gia nào mà tiếng nói của cộng đồng quốc tế bảo vệ Việt Nam là sự lên tiếng của chân lý, là sự phản kháng với thói “cậy lớn bắt nạt bé” của Trung Quốc.
Nói một cách khác, chính hành động coi thường đạo lý, bất chấp luật pháp quốc tế đã khiến các quốc gia gắn kết lại với nhau.
Thứ tư, có lẽ không cần phải phân tích nhiều để thấy Việt Nam luôn khát khao, mong muốn có mối quan hệ láng giềng tốt đẹp với Trung Quốc trên tinh thần độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ để cùng nhau phát triển.
Không bất cứ một người Việt Nam nào lại muốn “phá bỏmối quan hệ Việt - Trung” nếu như nó không “mơ hồ”, “viển vông” và đặc biệt là vi phạm tinh thần độc lập và vẹn toàn lãnh thổ.
Trên thực tế, các hành động cướp biển, khủng bố, thực dân… trên Biển Đông mà Trung Quốc đang làm đối với Việt Nam, Nhật Bản và Philippines là những hành vi bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của láng giềng, xâm phạm nghiêm trọng hòa bình, an ninh, ổn định khu vực.
Những tuyên bố về “4 không” của Trung Quốc hôm nay chính là bằng chứng chống lại tinh thần “bốn tốt” do chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây đề xuất.
Cũng cần nhắc lại rằng 40 năm qua, Trung Quốc đã có 4 lần “tốt” với Việt Nam.
Một “tốt” là năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lựcđánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Hai “tốt” là năm 1979, Trung Quốc đem quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.
Ba “tốt” là năm 1988, Trung Quốc một lần nữa lại dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Và điều “tốt” thứ tư là năm nay (2014), Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép Hải Dương - 981 trên phần biển của Việt Nam.
Các bài học lịch sử và thực tế cho thấy với Trung Quốc, không bao giờ được cả tin, mơ hồ để rồi nhận lại sự “viển vông” mà hãy nhìn vào những hành động của họ để hành xử cho hợp lý.
Từ “4 tốt” đến “4 không”, sự dối trá đã không còn giới hạn.
 
BLOG rất mong nhận được bình luận của các đồng chí xung quanh các đề tài mà chúng ta cùng quan tâm. Xin hãy GỬI BÌNH LUẬN phía dưới bài, viết ý kiến của mình. Mọi ý kiến của các đồng chí được chúng tôi đón đợi và quan tâm.
Xin cảm ơn!
Nguồn:tổng hợp từ dantri.com.vn

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Trung Quốc tăng cường các công cụ sức mạnh trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông

Gần đây Trung Quốc đã không ngừng đóng mới, hạ thủy nhiều loại tàu chấp pháp cỡ lớn. Điều này cho thấy Trung Quốc có thể đang thử nghiệm phương thức dùng lực lượng mạnh để gây áp lực với đối phương trong các tranh chấp biển, thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông.
Nhằm tăng cường sức mạnh trên biển, thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông, gần đây Trung Quốc đã không ngừng đóng mới, hạ thủy nhiều loại tàu chấp pháp cỡ lớn, bao gồm tàu hải giám, hải cảnh, hải tuần…, trong đó có hàng chục tàu có lượng giãn nước tới 4.000-5.000 tấn. Điều này cho thấy Trung Quốc có thể đang thử nghiệm phương thức dùng lực lượng mạnh để gây áp lực với đối phương trong các tranh chấp biển.

Giữa lúc căng thẳng đang leo thang tại Biển Đông về vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại khu vực biển Hoàng Sa thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc tiếp tục điều tàu hải cảnh cỡ lớn 5.000 tấn mang số hiệu 1401 xuống Biển Đông.

Theo Tân Hoa xã, tàu Hải cảnh 1401 là loại tàu đa chức năng, được lắp đặt nhiều thiết bị như vòi rồng, cần cẩu…, có thể đáp ứng tốt mọi yêu cầu nhiệm vụ trên hải dương. Tàu có chiều dài 99m, chiều rộng 15,2m, mớn nước 5,6m, tốc độ 19,1 hải lý/giờ, hành trình liên tục 12.000 hải lý, khả năng tự cung tự cấp 45 ngày, thủy thủ đoàn 57 người. Tuy có cùng kích cỡ như các tàu hải cảnh 4.000 tấn khác, nhưng do được trang bị một số thiết bị đặc biệt nên tàu này có lượng giãn nước thực tế lên tới 5.196 tấn.

Trước đó, Trung Quốc đã hạ thủy và biên chế tàu chấp pháp lớp 4.000 tấn mới nhất do nước này tự đóng mới mang số hiệu “3402” cho Tổng đội Hải cảnh Nam Hải. Hải cảnh 3402 là chiếc thứ 4 trong 4 tàu cùng lớp 4.000 tấn được Trung Quốc đóng mới. Chiếc đầu tiên mang số hiệu 3401 được hạ thủy và biên chế cho Tổng đội Hải cảnh Nam Hải hồi tháng 1/2014. Ngoài ra, còn có chiếc mang số hiệu 2401 được biên chế về cho Tổng đội Đông Hải. Tàu chấp pháp loại 4.000 tấn này có chiều dài 99m, rộng 15,2m, cao 7,6m, độ mớn nước 5,6m, lượng giãn nước 4.400 tấn, tốc độ 20 hải lý/h, hành trình liên tục 30 ngày đêm, được trang bị nhiều trang thiết bị chấp pháp tiên tiến. Tùy theo số lượng trang thiết bị đi kèm mà lượng giãn nước của nó có thể tăng lên tới hơn 5.000 tấn.

Các tàu hải cảnh lớp 4.000 tấn này có điểm đặc biệt là ở mặt boong phía mũi tàu, hiện đang để trống nhưng có thể lắp đặt thêm pháo hạm bất cứ lúc nào. Đây là điểm rất đáng chú ý, cho thấy ý đồ đằng sau việc đóng mới và hạ thuỷ hàng loạt tàu cực lớn của Trung Quốc, trong âm mưu độc chiếm Biển Đông.

Cùng với tàu quân sự, tàu hải cảnh, hải giám, ngư chính, Trung Quốc còn đưa nhiều tàu cá vỏ sắt cỡ lớn tham gia vào cuộc chiến độc chiếm Biển Đông. Trong 10 mẫu tàu cá vỏ thép chuẩn, tàu lưới kéo 41,38 mét là mẫu tàu lớn nhất được Trung Quốc dành riêng để đánh bắt tại ngư trường Trường Sa.

Chương trình đóng tàu cá vỏ thép cỡ lớn được phát động từ năm 2011. Tới ngày 10/11/2012 có một hội nghị tiêu chuẩn hóa tàu cá toàn quốc họp tại Bắc Kinh, tập hợp các chuyên gia đóng tàu, qua khảo sát 22 loại tàu cá hoạt động các nghề khác nhau, đóng bằng nhiều vật liệu, các vùng miền khác nhau. Ngày 23/5/2013, tại Hội nghị công nghệ trang thiết bị tàu cá, Đăng kiểm tàu cá Trung Quốc công bố 10 loại tàu cá đã được tiêu chuẩn. Trong quá trình sử dụng, các chủ tàu càng thấy tàu này là lý tưởng thích hợp cho vùng đánh bắt Trường Sa. Như vậy, Trung Quốc đã mất rất nhiều năm để nghiên cứu, thiết kế, ứng dụng, rút kinh nghiệm trong việc chuyển tàu cá nhỏ bằng gỗ sang tàu vỏ sắt lớn hơn, nhiều công dụng hơn.
Theo Nguyễn Chiến
Nguồn: http://dantri.com.vn; Chinhphu.vn
 

Học giả TQ can đảm nói thẳng về biển Đông

Để giúp dư luận và nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật, học giả Lý Lệnh Hoa đã công bố nhiều bằng chứng, chứng cứ về nguồn gốc các biển đảo trên biển Đông và đường lưỡi bò sai trái, nguy hiểm.
Nhà nước Trung Quốc ngày càng mở rộng hành động độc chiếm biển Đông, xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Ở trong nước, nhà nước Trung Quốc không ngừng tuyên truyền cho người dân bằng những thông tin ngụy tạo, sai sự thật như "Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc", "Việt Nam ức hiếp Trung Quốc", "Nước nhỏ ăn hiếp nước lớn", v.v...
Song không phải vì thế mà tất cả người dân Trung Quốc đều sai lầm tin vào những lời tuyên truyền sai trái đó.
Học giả Lý Lệnh Hoa
Học giả Lý Lệnh Hoa
Từ thiền sư Thích Đại Sán đến học giả Lý Lệnh Hoa
Thế kỷ 17, thiền sư Thích Đại Sán đã qua Việt Nam, ghi chép đầy đủ và trung thực chủ quyền của nhà Nguyễn ở Đàng Trong với Vạn Lý Trường Sa. Lúc ấy, vương triều Trung Hoa đang "quay lưng ra biển", chỉ quan tâm đến lục địa. Song những ghi chép, quan sát, cảm nhận của vị thiền sư Trung Quốc danh tiếng đã cho thế giới và người Trung Quốc góc nhìn về sự thật ở biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Vào đầu thế kỷ 20, Trung Quốc bắt đầu "dòm ngó" và nhảy vào cưỡng chiếm Hoàng Sa, một số quần đảo Trường Sa. Và, tham vọng chưa dừng tại đây, "đường lưỡi bò" được vẽ ra chiếm gần trọn biển Đông từ "một phút giây hứng khởi bất thường của một viên chức Trung Hoa Dân Quốc" đã trở thành chính sách bành trướng của nhà nước Trung Quốc xuyên suốt từ giữa thế kỷ 20 đến thế kỷ 21.
Tuy nhiên, ngay tại chính TQ, vẫn có những người dũng cảm, bất chấp nguy hiểm để nói lên sự thật với nhân dân, đồng bào của mình và nhân dân trên thế giới. Một trong số đó là học giả Lý Lệnh Hoa.
Học giả Lý Lệnh Hoa sinh năm 1946. Từ năm 1964 đến 1970 học khoa Hải dương học tại Học viện Sơn Đông. Sau khi ra trường, từ năm 1970 đến 2006 ông công tác tại Trung tâm thông tin Hải Dương quốc gia (ở Thiên Tân).
Nhờ môi trường công tác tại Trung tâm thông tin Hải dương quốc gia, ông đã tiếp cận và nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử, tài liệu khoa học về biển đảo và các vấn đề xung quanh liên quan. Từ đó, ông liên tục nói lên sự thật, chân lý và lẽ phải. Ông có viễn kiến sâu sắc, có trách nhiệm với đất nước và nhân dân Trung Quốc cũng như các nước láng giềng.
Ngay từ đầu ông đã khẳng định: "Trung Quốc muốn phát triển kinh tế và nâng cao uy tín thì cần phải tích cực và chủ động giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông - TG), phải xác lập được cơ chế đàm phán, thương lượng song phương và đa phương hữu hiệu, được các nước liên quan cùng chấp nhận, thiết thực sớm chấm dứt cục diện xung đột dài ngày ở Nam Hải (Biển Đông - TG).
Những bài viết sắc bén, có căn cứ khoa học, pháp lý và lịch sử phản bác lại lập luận sai trái của Trung Quốc về Biển Đông của ông không được các báo chính thống của Trung Quốc đăng tải. Do đó, ông đã tích cực sử dụng blog cá nhân để truyền tải đến nhân dân Trung Quốc sự thật và lẽ phải. Mới đây nhất khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ông đã nghiêm khắc cảnh báo tai họa cho đất nước và nhân dân của mình: "Trung Quốc đang tự biến mình thành kẻ thù của các nước láng giềng và thế giới văn minh".
Trên blog cá nhân ngày 21/5/2014, Lý Lệnh Hoa viết: "Truyền thông Trung Quốc đã đăng tải quá nhiều phát biểu vô trách nhiệm về những vấn đề về liên quan đến biển Đông. Họ chẳng hiểu gì Công ước 1982 hay Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), họ bỏ qua lý lẽ và thậm chí coi thường Công ước đã ký. Những gì họ nói, họ biết về "đường lưỡi bò" là vô cùng cẩu thả. Tất cả các đường ranh giới trên đất liền và hải phận trên thế giới đều là những đường liền mạch, rõ ràng, còn "đường lưỡi bò" chỉ là một vệt 9 đoạn đứt quãng quá mơ hồ..."
Và "Trung Quốc là một quốc gia lục địa. Từ xa xưa cho đến tận đời nhà Minh, nhà Thanh, Trung Quốc vốn không quan tâm nhiều đến biển. Làm sao lại có thể dám nói rằng, người Trung Quốc từ xa xưa đã vươn ra hoạt động trên một vùng biển rộng đến hơn 200 vạn km2 mà Trung Quốc đang đòi hỏi hiện nay? Đấy là một sự ngụy tạo, bóp méo sự thật lịch sử".
Bản đồ đường lưỡi bò vẽ và viết bằng tay gốc bị phát hiện do một viên chức vẽ.
Bản đồ đường lưỡi bò vẽ và viết bằng tay gốc bị phát hiện do một viên chức vẽ.
30 năm kiên trì sự thật
Để giúp dư luận và nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật, học giả Lý Lệnh Hoa đã công bố nhiều bằng chứng, chứng cứ về nguồn gốc các biển đảo trên biển Đông và đường lưỡi bò sai trái, nguy hiểm. Chính ông đã tìm ra nguồn gốc ra đời "đường lưỡi bò" và gọi tác giả và cơ quan chuyên môn này là "Ổ sáng tác ra đường lưỡi bò". Và, "Đường chín đoạn do tiền nhân của chúng ta vạch ra không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý".
Chính nhờ ông mà cả thế giới biết xuất xứ về "đường lưỡi bò" (Cửu tuyến đoạn) là một sản phẩm do một công chức bình thường của Trung Quốc vẽ sau một chuyến đi qua biển Đông. Ông nhiều lần phát biểu công khai: "Đường 9 đoạn" chỉ là đường ảo, trong khi đường biên giới trên biển phải được quốc tế thừa nhận là có thực". Khi Trung Quốc xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa đánh chiếm của Việt Nam, ông thẳng thừng tuyên bố: "Không nên làm trò hề cho thế giới cười".
Ông đã dành gần cả cuộc đời nghiên cứu và công bố sự thật với mong muốn "Không để Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc ảo mộng". Đặc biệt từ năm 2005 đến nay, trước sự bành trướng ngày càng hung hăng của chính quyền Trung Quốc, học giả Lý Lệnh Hoa đã nỗ lực không ngừng để cung cấp cho người dân và giới nghiên cứu Trung Quốc những bằng chứng, lý lẽ, luật pháp quốc tế để "lay tỉnh" mọi người thoát khỏi "ác mộng" và "đại họa".
Ngày 14/6/2012, Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc Trung Quốc tổ chức Hội thảo Tranh chấp biển Đông: Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế. Học giả Lý Lệnh Hoa được mời tham gia cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu của Trung Quốc.
Tại đây, ông đã thẳng thắn đánh giá hành vi của Trung Quốc trên biển Đông như sau: "Không thể xỏ giày trước rồi mới đi tất". Ông đã chứng minh cho các diễn giả thấy những sai trái của Trung Quốc khi dùng vũ lực xâm chiếm cưỡng đoạt nhiều đảo và biển Đông. Chiếm xong rồi tìm cách "chứng minh". Vì vốn không phải sự thật nên không chứng minh được, đành phải viện dẫn nhiều dẫn chứng vu vơ, vô căn cứ.
Ông tỏ ra lo lắng cho cách hành xử của nhà nước Trung Quốc và nhiều lần lên tiếng. Ông nói tại hội thảo : "Bởi vậy Bộ Ngoại giao và phía quân đội (Trung Quốc) có lúc rất cứng rắn trên vấn đề này, tôi cảm thấy làm như thế là xem xét vấn đề chưa chu toàn. Tôi đã viết rất nhiều thư gửi cho các cán bộ liên quan của Bộ Ngoại giao (Trung Quốc - TG) nhưng cũng không có thư trả lời..."
(Còn nữa)

Những toan tính mới của Trung Quốc ở Biển Đông

Gần đây, hành động đơn phương của Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách ở Biển Đông đã đẩy căng thẳng khu vực lên một mức độ mới. Những bước đi đầy tính toán của Trung Quốc được thúc đẩy bởi cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài.
Trong những tháng gần đây, hành động đơn phương của Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách ở Biển Đông đã đẩy căng thẳng khu vực lên một mức độ mới. Những bước đi đầy tính toán của Trung Quốc được thúc đẩy bởi cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài. Những yếu tố trên bao gồm việc tăng cường uy tín và quyền lực của chủ tịch Tập Cận Bình với nghị trình cải cách trong nước của ông Tập, cùng nhận định rằng Mỹ ít có khả năng can thiệp vào thời điểm này. Ngoài hành động công khai khẳng định yêu sách đối với Biển Đông, các tuyên bố chính thức và những phân tích pháp lý Trung Quốc đã thể hiện quyết tâm của nước này trong việc bảo vệ đường chín đoạn đầy tranh cãi Biển Đông.
Theo quan điểm của Trung Quốc, cách giải thích rõ ràng và trực tiếp nhất cho sự quyết đoán của nước này ở Biển Đông đơn giản: Việc Trung Quốc đơn phương kiềm chế trong quá khứ đã không giúp cải thiện vị thế của nước này trong tranh chấp Biển Đông đồng thời tạo điều kiện cho các bên yêu sách khác tăng cường sự hiện diện và các yêu sách. Bởi vậy, để cải thiện vị thế trong bối cảnh hiện tại hoặc trong các cuộc đàm phán tương lai, Trung Quốc trước hết phải thay đổi hiện trạng bằng mọi biện pháp cần thiết hiện có. Bắc Kinh lựa chọn triển khai lực lượng dân sự và bán quân sự trên biển nhưng không loại trừ việc sử dụng sức ép quân sự nếu cần thiết. Một vị thế thuận lợi và đặc quyền nhất định Biển Đông thành tố không thể thiếu đối với khát vọng trở thành “cường quốc biển của Trung Quốc, một “nhiệm vụ quan trọng” được nêu rõ trong Đại hội Đảng lần thứ 18 năm 2012 và chính sách được ông Tập về mặt cá nhân khá ủng hộ. Với tham vọng “Hạm đội Biển xanh” và việc mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc bị giới hạn bởi các nút thắt dọc bờ biển phía đông từ Nhật Bản xuống tới Philippines, Biển Đông một khu vực biển rộng lớn và ít bị kiềm tỏa đối với hoạt động của hải quân.
Trong khi chính sách thay đổi nguyên trạng và tham vọng trở thành cường quốc biển đã hình thành từ một vài năm trước, thời điểm của những hành động gần đây của Trung Quốc lại liên quan chặt chẽ tới các vấn đề chính trị quốc nội - ông Tập cần một chính sách đối ngoại mạnh mẽ nhằm tăng cường quyền lực trong nước. Các nghị trình cải cách đang được thực hiện kể từ khi ông Tập đảm nhiệm vai trò lãnh đạo vào năm 2013, bao gồm “cải cách kinh tế sâu rộng” và chiến dịch “chống tham nhũng” mạnh mẽ, đã đụng chạm đến nhiều vấn đề nhạy cảm liên quan đến các nhóm lợi ích và giới lãnh đạo chính trị ở Trung Quốc. Vì vậy, ông Tập phải giành được uy tín trong chính sách đối ngoại càng nhiều càng tốt để xây dựng hình ảnh một người lãnh đạo mạnh mẽ, đồng thời xoa dịu những chỉ trích trong nước về các nghị trình khác nhau mà ông Tập thúc đẩy. Điều này không nhất thiết thể hiện hoặc chứng minh rằng ông Tập về cá nhân không tán thành chính sách ngoại giao quyết đoán, nhưng nó tăng thêm động lực dẫn đến việc hình thành chính sách đó.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Trung Quốc đang hành xử quyết đoán ở Biển Đông vì nước này tin rằng mình có thể làm vậy. Đánh giá này không chỉ dựa trên năng lực quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, vượt trội hơn so với tất cả các bên yêu sách khác ở Đông Nam Á cộng lại, mà dựa vào niềm tin mạnh mẽ rằng nước Mỹ sẽ không sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại hành động của Trung Quốc. Trung Quốc đã theo dõi sát việc Mỹ do dự trong hành động can thiệp quân sự ở Syria, ở cả Ukraine, và rút ra kết luận rằng chính quyền Obama không muốn Mỹ bị cuốn vào một cuộc xung đột quân sự. Trung Quốc cho rằng chính quyền Obama không hề muốn trong di sản đối ngoại của mình một cuộc xung đột với Trung Quốc. Bất kể nói như vậy, Trung Quốc cũng hoàn toàn nhận thấy sự khác biệt giữa Ukraine, nước không phải là thành viên của NATO, và Philippines, một nước đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, khi Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Bãi cạn Scarborough năm 2012, Mỹ đã không có bất kỳ động thái gì. Ngoài ra, bà Fu Ying, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Trung Quốc tại thoại Shangri-La gần đây đã tuyên bố rằng, tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam “không liên quan gì với Mỹ.” Thông điệp ở đây là Việt Nam không phải đồng minh của Mỹ và khả năng Mỹ có hành động can thiệp quân sự với danh nghĩa của Việt Nam là hết sức xa vời, nếu không nói là không tồn tại.
Ngoài những hành động đơn phương để thay đổi hiện trạng, Trung Quốc cũng đang củng cố các lập luận về “đường chín đoạn” ở Biển Đông. Tại Đối thoại Shangri-La, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Trung tướng Vương Quán Trung đã trình bày sáu điểm chưa có tiền lề về tính hợp pháp của đường chín đoạn, một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Bắc Kinh quyết tâm duy trì yêu sách này. Điều này trái ngược với một vài năm trước khi giới ngoại giao và pháp lý của Trung Quốc vẫn còn tranh cãi về tính hợp pháp của đường lưỡi bò. Hiện nay các nhà phân tích Trung Quốc gần như nhất trí rằng Bắc Kinh cần giữ vững yêu sách đầy tranh cãi này.
Trung Quốc hiểu rất rõ những mâu thuẫn giữa đường chín đoạn và UNCLOS 1982, và nước này đã tập trung khá nhiều vào công tác nghiên cứu pháp lý để chứng minh lập luận về “quyền lịch sử”. Một số chuyên gia Trung Quốc tìm thấy sự biện minh ngay trong chính UNCLOS, đã tuyên bố rằng công ước này “không rõ ràng” và “không thể quyết định” các vấn đề về quyền lịch sử. Theo quan điểm của họ, UNCLOS không thể giải quyết được vấn quyền lịch sử và vấn đề này đang tiếp tục được bàn thảo. Một số chuyên gia khác thì cho rằng đường chín đoạn sẽ không được UNCLOS ủng hộ. Do đó, họ đang cố gắng tìm những cách biện giải khác ngoài UNCLOS, từ tập quán pháp quốc tế hay các quy tắc thông lệ. Cả hai trường phái đều lập luận rằng do đường chín đoạn có trước UNCLOS tới bốn thập kỷ và quyền lịch sử của Trung Quốc đã hình thành trước UNCLOS thậm chí còn lâu hơn nữa, do vậy UNCLOS không hiệu lực hồi tố để bác bỏ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền quản lý biển của Trung Quốc được hình thành trong lịch sử.
Trung Quốc cũng đang thận trọng cân nhắc việc nước này nên yêu sách những gì bên trong đường chín đoạn. Lý do của “sự mơ hồ chiến lược” có chủ ý này hết sức rõ ràng: Tạo thêm không gian và sự linh hoạt cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Đa phần các nhà phân tích Trung Quốc có xu hướng coi các vùng nước bên trong đường chín đoạn là Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc, mặc dù chính phủ vẫn chưa chính thức công khai công nhận quan điểm này.
Nhiều người trong giới ngoại giao Trung Quốc hiểu rõ điểm yếu của những lập luận pháp lý này. Tuy nhiên, những lập luận pháp lý dù chưa thuyết phục vẫn tốt hơn so với việc không biện minh gì cả, đặc biệt khi nó được hậu thuẫn bởi sức mạnh quốc gia và việc Bắc Kinh sẵn sàng sử dụng sức mạnh đó. So sánh tương quan, nước này cho rằng có thể kiểm soát được cái giá phải trả về danh tiếng. Thực tế, trong phân tích được-mất của Trung Quốc, cái được thực sự của hành động cưỡng ép về cơ bản bù đắp được cái mất. Xét cho cùng, Trung Quốc có những cách thức khác - chủ yếu là kinh tế - để cải thiện quan hệ với Đông Nam Á trong khi yêu sách của nước này ở Biển Đông khó có thể đạt được thông qua các phương thức khác ngoại trừ sự cưỡng ép. Bên cạnh đó, Trung Quốc không chấp nhận các cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định của UNCLOS. Vì vậy, ngay cả khi tòa trọng tài ủng hộ yêu sách của Philippines, Trung Quốc sẽ không chấp nhận kết quả và quả thực sẽ rất khó, nếu không muốn nói là hoàn toàn không thể, việc tòa án có thể thực thi phán quyết của mình.
Dù các quốc gia khác có muốn hay không, Trung Quốc đang đạt được những gì mà nước muốn. Những diễn biến mới trong toan tính và lập trường của Trung Quốc phải được các quốc gia trong khu vực nhìn nhận đúng đắn và đưa ra phản ứng kịp thời, đặc biệt là nước Mỹ.
Yun Sun là nhà nghiên cứu thuộc Chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Stimson. Bài viết đăng trên “East west center” (ngày 10/6).
Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/4136-4136

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

KIỆN TRUNG QUỐC - LÀM GÌ TRƯỚC ĐỂ CHẮC THẮNG? Bài 1: LỖ HỔNG CÔNG PHÁP QUỐC TẾ VÀ BA TÌNH HUỐNG CÓ THỂ XẢY RA

NVMFB - Những ngày gần đây, không ít người vì tình yêu Tổ quốc và căm giận sự xâm phạm chủ quyền đã "dữ dội" đặt câu hỏi vì sao không kiện ngay TQ ra toà án quốc tế đi! Phải chăng Đảng, Nhà nước chậm trễ vì "lệ thuộc" TQ? Tại sao chính nghĩa thuộc về ta mà ta không kiện (chưa kiện)?
Với tình yêu Tổ quốc, NVM cho rằng, giờ là lúc không cần thiết tranh cãi nhau hay chỉ trích những vấn đề lịch sử để lại; cũng không nên "cãi cùn", cãi lấy được trong câu chuyện bảo vệ chủ quyền. Xử lý vấn đề với TQ hiện nay, cách tốt nhất và thông minh nhất là cùng với tinh thần đại đoàn kết dân tộc, có một bước nhảy vọt trong lao động, phát triển kinh tế, chăm lo đối ngoại và quốc phòng thì phải cùng nhau "hiến kế" xử lý vấn đề trên cơ sở kiến thức và luật pháp quốc tế. Có cảm giác rằng, một số phát biểu, thậm chí một số bài báo xung quanh chủ đề này trên báo chí vừa qua chưa đạt yêu cầu, thậm chí có chỗ phản tác dụng. Với tinh thần đó, từ góc độ nhìn nhận cá nhân và những nghiên cứu của mình, NVM xin đưa ra một số vấn đề sau:

Loại trừ những thành phần đầu đất mà sự phản động có thừa như Phạm Văn Điệp và một số phần tử khác không có cả cái đầu lẫn trái tim để đủ hiểu sự việc nên NVM không chấp; còn để xử lý vấn đề này, hơn lúc nào hết chúng ta vẫn phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh. Vì những lý do sau đây:
Trong xử lý vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông; có rất nhiều phương pháp, biện pháp. Ngay trong các biên pháp hoà bình cũng đã bao gồm rất nhiều các biện pháp rồi và kiện ra toà án quốc tế chỉ là một trong những biện pháp. Nhưng với một đất nước ngang ngược, ngông cuồng và đang trên thế nước lớn để "lấy thịt đè người" như Trung Quốc thì có thể đặt ra 3 tình huống:
Một là, ngay cả khi toà án tuyên phía VN thắng kiện, TQ cũng sẽ không đếm xỉa gì đến việc thực thi. Nhưng cái lợi, cái được rất lớn trong tình huống này là dư luận quốc tế sẽ hiểu hơn sự việc và thêm ủng hộ VN, phía TQ thêm bị cô lập và phần nào suy giảm ý chí xâm lược, thôn tính biển đảo của nước khác.
Hai là, phía TQ sẽ né tránh không tham gia vụ kiện vì nó sẽ có nhiều bất lợi cho TQ. Đây là tình huống khả dĩ nhất và với vụ kiện của Phi-li-pin, TQ đang hành xử theo hướng này. Theo Tiến sĩ vật lý Dương Danh Hy Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, hiện sống tại Anh và đã có nhiều năm nghiên cứu về tranh chấp biển Đông, hiện là thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông thì hiện nay, Trung Quốc chưa chấp nhận trực tiếp hay gián tiếp cho bất cứ tòa nào thẩm quyền để công nhận Hoàng Sa là của nước nào. Điều này có nghĩa chúng ta chưa kiện về chủ quyền đảo được. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã dùng Điều 298 của UNCLOS để tránh không cho trọng tài UNCLOS thẩm quyền để phân xử một số loại tranh chấp biển. Điều này làm cho trọng tài UNCLOS không có thẩm quyền để công nhận giàn khoan Hải Dương-981 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước nào. Hai điều này làm cho khó đơn phương kiện Trung Quốc.
Như vậy, tình huống TQ né tránh giống như hai vợ chồng ly hôn nhưng một người chẳng chịu ra toà, dây dưa thì sự việc sẽ còn kéo dài.
Ba là, trường hợp VN thua kiện. Nói điều này, chắc rằng nhiều người sẽ rất "chim cú" và quy kết NVM là "phản động" nhưng mong mọi người hãy bình tĩnh, vì đây là các giả thiết có thể xảy ra và với tinh thần "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng" chúng ta hoàn toàn phải đặt các giả thiết này. Hồi học trong các nhà trường quân sự, chúng tôi luôn có một phương pháp rõ ràng là dự kiến tình huống và cách xử trí trong mỗi trận đánh và trong những tình huống đó, không bao giờ thiếu tình huống thất bại, kể cả tình huống bị địch bao vây, người chỉ huy cao nhất hi sinh…Ở đây cũng vậy, mặc dù chính nghĩa thuộc về chúng ta, đất đai biển đảo cha ông ta để lại hàng nghìn đời, sự hiện diện của người Việt khẳng định chủ quyền đã thể hiện qua nhiều thư tịch cổ và trong tác phẩm gần hơn là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, chỉ cần một cú gọi cụ gu gồ là các bạn đã thấy cụ Lê Quý Đôn bàn về "Bãi cát vàng", gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa cùng những đội quân dược triều đình cử đi khai thác, khai thác gì, trên đảo có gì…Tuy nhiên, với âm mưu độc chiếm Biển Đông, phía Trung Quốc từ năm 1909 đến nay đã đưa ra nhiều chiêu bài lắt léo, tạo dựng nhiều chứng cứ nguỵ tạo cùng nhiều đối sách thâm độc để âm ưu chiếm đoạt. Và công pháp quốc tế, hệ thống pháp luật về biển của quốc tế tuy đã có đấy nhưng vô cùng phức tạp, rắc rối, nhiều điểm chưa hoàn thiện, nhiều chỗ "muốn hiểu thế nào cũng được, muốn áp dụng thế nào cũng được" nên tình huống VN bị thua kiện không phải là không có thể xảy ra.



Để minh chứng cho điều này, chúng tôi xin được trích một đoạn trong cuốn sách “Việt Nam – Đất, biển, trời” của chuyên gia luật biên giới, nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng viết về vấn đề xử lý tranh chấp biển đảo. Cuốn sách đã được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã cho rằng ông là một luật gia “nắm vững vấn đề” thực hiện cuốn sách với “bao tâm huyết, nó xứng đáng có vị trí trong số những sách mà cán bộ ta cần nghiên cứu”. Trong cuốn sách này, khi bàn về luật biển và những vấn đề liên quan biển, đảo, thềm lục địa, chuyên gia Lưu Văn Lợi viết: “Công ước về Luật Biển năm 1982 đã có định nghĩa rõ ràng về thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và những quy định rõ ràng về nghĩa vụ và quyền của các nước ven biển liên quan đến thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế. Tiếc rằng, về việc phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, Công ước chỉ nói chung chung là các nước hữu quan qua con đường thương lượng, cùng nhau thoả thuận một “giải pháp công bằng” và cũng không nói thế nào là giải pháp công bằng và cần làm gì để đi tới một giải pháp công bằng…”.
PGS, TS Nguyễn Hồng Thao, hiện là Đại sứ Việt Nam ở Ma-lai-xi-a, nguyên Phó trưởng ban biên giới Chính phủ, một chuyên gia nghiên cứu và từng đoạt giải thưởng quốc tế về công trình nghiên cứu tranh chấp trên biển Đông cũng cho biết: “Do sự khác biệt về tương quan lực lượng, phạm vi yêu sách, e ngại dư luận trong nước, khả năng rủi ro chính trị nên các Chính phủ khó có thể đồng thuận để đưa tranh chấp Trường Sa ra trước Tòa án quốc tế. Chỉ một nước không đồng thuận, Tòa án sẽ không có thẩm quyền. Hiện tại, mới chỉ có Philippines công nhận quyền tài phán bắt buộc của Tòa nhưng lại bảo lưu không áp dụng cho các tranh chấp liên quan đến KIG, tức quần đảo Trường Sa. Khả năng đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trước Tòa án quốc tế có thể đơn giản hơn nếu xét ở mức độ chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc nhưng sẽ khó hơn nhiều vì Trung Quốc đang quản lý toàn bộ quần đảo này và không muốn bàn đến ngay cả trong cơ chế đàm phán trên biển giữa hai nước có từ năm 1996. Tình hình cũng tương tự đối với các cơ chế tài phán quốc tế khác như Tòa án Trọng tài Luật biển quốc tế….”. Ông Thao cũng cho biết: “Công ước Luật biển 1982 không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về đá dẫn tới những giải thích khác nhau về quy chế đảo đá. Kích thước, chu vi, chiều cao như thế nào để được coi là đảo hay đá? Thế nào là đá thích hợp cho con người đến ở?
Biển Đông đã được biết đến như một trung tâm tranh chấp của thế giới về mức độ phức tạp, số lượng các bên tranh chấp và sự quan tâm lợi ích của các cường quốc. Hoàng Sa trên thực tế là tranh chấp ba bên giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Trường Sa là nơi tranh chấp của Brunei, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan. Tranh chấp trên Biển Đông bao gồm tranh chấp chủ quyền đảo và tranh chấp vùng biển. Bốn trở ngại lớn nhất cho mọi giải pháp là vấn đề chủ quyền, đường đứt khúc 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò), quy chế đảo và chủ nghĩa dân tộc. Giải quyết các trở ngại trên phải căn cứ vào luật biển và thiện chí của các quốc gia. Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 mới chỉ là một văn kiện chung nên còn nhiều vấn đề như quy chế đảo, hệ thống các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp cần được hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình khu vực. Nếu luật biển còn chưa rõ ràng thì các nước phải tiếp tục thỏa thuận”.
Từ những lập luận trên cho thấy rằng, việc kiện TQ ra toà án quốc tế là cần thiết nhưng không đơn giản, cần phải có sự chuẩn bị kỹ. Xin được dẫn thêm, vẫn là ý kiến của PGS Nguyễn Hồng Thao, để chiến thắng trong cuộc “chiến đấu này”, “bên cạnh đào tạo chiều rộng, theo tôi, cần quan tâm đào tạo chiều sâu; cần sớm có kế hoạch đưa được người Việt vào các hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế, các Tòa trọng tài quốc tế, cơ quan quyền lực đáy đại dương, Ủy ban ranh giới thềm lục địa...”.
Hiện chưa rõ thống kế VN có bao nhiêu chuyên gia về lĩnh vực này nhưng chúng tôi được biết, Trung Quốc từ lâu đã đào tạo cả đội ngũ bài bản và có người của họ trong nhiều cơ quan quan trọng nêu trên.
Trong những phần tiếp theo, NVM sẽ phân tích đến những khía cạnh pháp lý nào cần tập trung trước để VN giành chiến thắng, từng bước khẳng định lẽ phải, công lý và sự thật…
Lưu ý: NVM giữ bản quyền, mọi sao chép, đăng tải lại phải được sự đồng ý của NVM.
ảnh:
- Trường Sa những ngày đầu giải phóng, tháng 5 năm 1975 do nhà báo Nguyễn Khắc Xuể, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân chụp lại
- Trường Sa tháng 5-2014 do NVM chụp

TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ SAU VỤ GIÀN KHOAN?

NVM Blog - Theo dự báo của kỹ sư tàu biển kỳ cựu Đỗ Thái Bình (Bình Biển), sau trò "giàn khoan", Trung Quốc sẽ đưa tàu "khảo cổ" vào vùng biển của ta và lần này, rất có thể địa bàn sẽ là Trường Sa thân yêu của chúng ta. Khảo cái khỉ gió gì không biết nhưng chúng ta hãy xem bài viết dưới đây và cùng suy ngẫm về những trò khốn ấy qua phân tích của bác Bình Biển, một người vừa hiểu đóng tàu vừa rất hiểu "Tàu"…
(Bài viết của kỹ sư Đỗ Thái Bình)

Tiếp sau trò "giàn khoan "là tàu "khảo cổ"

9 Tháng 6 2014 lúc 21:31

Toàn cảnh tàu TQ KC số 1 trên sông Trường Giang

Tàu TQKC số 1 lúc còn nằm trên đà Xưởng Đông Phong Trùng Khánh,ven sông Trường Giang và nằm sâu trong lục địa TQ

Buồng điều khiển khá thoáng rộng

Tàu sơn trắng và gắn cái huy hiệu China Cultural Heritage
Từ lâu, Trung Quốc đã đầu tư khá lớn cho công tác nghiên cứu dân tộc học, khảo cổ học…để làm nền tảng cho công cuộc tiến ra đại dương,thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” .Một hệ thống bảo tàng dày đặc về hàng hải ,từ bảo tàng Trịnh Hòa trên đỉnh núi huyện Tấn Ninh Côn Minh Vân Nam tới những bảo tàng tại Nam Kinh, Tuyền Châu, Ma Cao …với hàng nghìn hiện vật khai quật được nhằm chứng minh mình cũng là “dân biển “ đã đặt chân tới nhiều vùng xa xôi trên thế giới, nhiều vùng là chủ quyền của mình.Có dịp tới Thượng Hải ,đi về phía khu trường Jiaoda mới (Đại học GT Thượng Hải) ,bạn sẽ phải ngạc nhiên về quy mô cái Bảo tàng Hàng hải mới xây một hai năm nay .Nhưng sắp tới,bảo tàng Hàng hải tại Thiên Tân còn to hơn nhiều, do kiến trúc sư người Úc vẽ.Và có lẽ ít có quốc gia nào có loại tàu chuyên làm công tác khảo cổ vì công việc này dùng nhiều công cụ khác nhau,việc làm một con tàu chuyên dùng sẽ vừa thừa vừa thiếu .Thế mà Trung Quốc có con tàu chuyên làm việc này .Con tàu đầu tiên với tên “Zhongguo Kaogu 01 中国考古 ” tức là tàu “Trung Quốc Khảo cổ 01 “ đang nằm tại Ma cau ,chuẩn bị hành trình xuông quần đảo Trường Sa như nhiệm vụ thư thiết kế ban đầu của con tàu đã ghi rõ !
Đó là tàu khảo cổ TQ đầu tiên do Viện Thiết kế 701 với Viện trưởng tên là Zuo Wenkeng (左文铿 Tả văn Khanh)của Tập đoàn đóng tàu CSIC thiết kế và đóng tại Xưởng Đông Phong với giám đốc tên là Gou yuanjun (苟元君Cẩu Nguyên Quân –cẩu đây là cẩu thả chứ không phải là chó !) tại Trùng Khánh. Tàu có chiều dài tổng cộng 56 mét , mớn 2,6 mét , lượng chiếm nước 900 tấn , chịu sóng gió cấp 8 ,đi biển 30 ngày với hai kho thực phẩm và nước uống . Thiết bị đẩy tàu là động cơ điện .Được hạ thủy ngày 24/01/2014 và vùng hoạt động được ghi rõ trong nhiệm vụ thư thiết kế là vùng ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,nhất là Trường Sa ! Vì là tàu nhỏ, mớn nước thấp , lại mang nhiều thiết bị nên người ta cố gắng hạ thấp trọng tâm tàu, nhưng như thế tàu lại dễ lắc trên sóng .Bởi vậy để chống lắc cho tàu ,với một số lượng đông đảo các khoa học gia làm việc và sống trong 20 căn phòng khép kín đủ tiện nghi kể cả tắm nóng lạnh,tàu sử dụng két chống lắc ở hai bên mạn. Tốc độ tối đa là 12 hải lý/giờ và tầm hoạt động độc lập là 30 ngày căn cứ theo thực phẩm còn theo nhiên liệu không được nói rõ nhưng chỉ thấy ghi đi được xa bờ 200 km và trở về trong thời gian 9 giờ chắc là dự tính từ các căn cứ đang được xây dựng quy mô tại Trường Sa như Gạc Ma chẳng hạn. Tàu sơn trắng , đáy đỏ với chủ tàu là “Quốc gia Văn vật Cục” tức Cục Bảo tàng của Trung Quốc.Thiết bị đẩy tàu kiểu diesel-điện chắc để chống ồn khi chạy chân vịt.Tàu trang nhiều thiết bị :địa vật lý,nhận dạng, định vị dưới nước, sonar, các thiết bị đo đạc, lặn dưới sâu ,ghi hình ảnh,quét thủy lôi bảo vệ tàu,scuba,phòng thí nghiệm .Từ tháng Giêng năm 2014 tới tháng Năm nó di chuyển dần từ Trùng Khánh theo sông Trường Giang tới Nam Kinh,Thượng Hải ,Thanh Đảo Macau và rồi tiến xuống Trường Sa.
Bằng chiêu trò khảo cổ và những xác tàu chìm phát hiện được, Trung Quốc đang thực hiện yêu sách chủ quyền trên Biển Đông, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của chúng ta. Có thể thấy con tàu này có nhiều điều vô lý vì như chúng tôi đã nói ở trên ,nó vừa thiếu vừa thừa. Để khám phá ban đầu thì nó quá thừa nhưng khi triển khai nó lại quá thiếu .Ví như khi khảo cứu tàu chìm Cù Lao Chàm ,ta biết rằng người ta đã huy động một số tàu kéo ,chuông lặn ,buồng hồi áp ...trong khi để sơ khảo bản đồ tàu chìm vùng Biển Đông ,Michael từ Singapore chỉ huy động tàu nhỏ với sonar quét ngang và vài thiết bị là đủ.Việc gương oai với con tàu dán nhãn khảo cổ ,bên mạn có huy hiệu "China Cultural Heritage " Di sản Văn hóa Trung Quốc bằng tiếng Trung-Anh muôn nói lên điều gì ?
Biết rằng với một nền kinh tế yếu ớt sau chiến tranh ,khoa khảo cổ dưới nước của chúng ta dù non yếu cũng đã có nhiều nỗ lực với 9 cuộc khảo cứu có sự tham gia của nước ngoài,với phát hiện bãi cọc Bạch Đằng ,với việc thành lập phòng khảo cổ dưới nước vào đầu năm nay tại Viện Khảo cổ phố Phan Chu Trinh Hà Nội .Nhưng liệu có thể làm hơn thế được không ? Có một chuyện nhỏ sau đây :Cả vùng Sầm Sơn Thanh Hóa ,ai cũng biết tới anh chàng cao lớn có tên là Nick từ Úc sang , hướng dẫn ngư dân đóng chiếc bè để thực hiện chuyến vượt Thái Bình Dương cách đây tròn 20 năm.Nghiên cứu cái bè tre tới từng chi tiết,anh lại chỉ huy ngư dân làm theo đúng bản vẽ sao cho bè đúng là cổ, không dùng một vật liệu nào của thế kỷ 20,tất cả từ tự nhiên như cha ông ta đã làm. Với cái bè đó,thủy thủ Lương Viết Lợi Sầm Sơn đã cùng 3 người nữa dưới sự chỉ huy của Tim Severin vượt biển sang tới gần Mỹ.Tháng Ba vừa qua,Tim tới Sài Gòn và báo Tuổi Trẻ đưa tin liên tục trong 5 số báo liên tiếp .Nhiều bạn trẻ yêu du lịch rất quan tâm nhưng không hề thấy các nhà dân tộc học,khảo cổ học Việt Nam lên tiếng và có lẽ cũng chưa ai liên hệ với Nick hay Tim .Trong khi đó Nick là một chuyên gia đầu bảng về tàu thuyền cổ và sau chuyến công tác tại Sầm Sơn anh có công trình khảo cứu về bè tre Sầm Sơn đăng trên tạp chí khoa học khảo cổ thế giới .Và tạp chí này được trưng bày trang trọng trong Bảo tàng thuyền cổ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc vì Nick là một cộng tác viên hàng đầu với họ !
Theo http://nguyenvanminhbqd.blogspot.com