Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Thực hiện đa nguyên chính trị chẳng khác nào "tự giết mình"

Lê Văn Hòa
Đa nguyên chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chế độ trong đó tồn tại nhiều đảng phái chính trị đối lập, đấu tranh với nhau đòi chia sẻ quyền lực chính trị đối với xã hội. Thời gian gần đây, lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực trong và ngoài nước lại tập trung đấu tranh đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp - điều mà đã được các bản Hiến pháp trước đó hiến định; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, tam quyền phân lập...như kiểu phương Tây. Những đòi hỏi đó là điều không thể và hoàn toàn phi lý. Vì:
Thứ nhất, các kiểu nhà nước ra đời trong lịch sử đều bắt nguồn từ nguồn gốc lịch sử của nó, xuất phát từ những điều kiện lịch sử, văn hóa, địa lý khác nhau mà thiết lập các kiểu nhà nước khác nhau trong đó thiết lập cho mình một chế độ chính trị, bản chất giai cấp phù hợp với đặc điểm của mỗi quốc gia. Cũng vì vậy mà tùy vào mỗi nước, có nhà nước bỏ qua kiểu nhà nước này để tiến lên một kiểu nhà nước khác. Như Việt Nam không trải qua các kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước tư bản và tiến thẳng từ nhà nước phong kiến lên nhà nước xã hội chủ nghĩa (bỏ qua nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước tư bản chủ nghĩa), để tiến lên kiểu nhà nước XHCN tiến bộ hơn, là quy luật tất yếu của lịch sử, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Trong chế độ tư sản hiện nay - chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập có nguồn gốc lịch sử của nó. Vì trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống chuyên chế phong kiến châu Âu, các đảng chính trị dần xuất hiện đại diện cho các tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản, cũng là để tiến lên một kiểu nhà nước khác tiến bộ hơn kiểu nhà nước cũ trước đó, nhưng ngay từ khi ra đời các đảng tư sản đã có những mâu thuẫn nội bộ, phản ánh những mâu thuẫn lợi ích giữa các tầng lớp trong giai cấp tư sản nhưng đều thống nhất một mục tiêu là lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập một chế độ chuyên chính của giai cấp tư sản.
Về hình thức, chế độ đa nguyên chính trị có vẻ dân chủ, các đảng đều có quyền tự do tranh luận, bầu cử, ứng cử...và trên lý thuyết đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền. Nhưng trên thực tế chỉ có những đảng chính trị lớn, có thế lực được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản lớn và được pháp luật giành cho họ những điều kiện thắng cử và nắm giữ quyền lực nhà nước.
Hai là, đa nguyên chính trị tất yếu dẫn đến tổ chức quyền lực nhà nước theo "tam quyền phân lập" - một học thuyết của Mông-Téc-ki-ơ (nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Pháp). Xuất phat từ quan điểm quyền lực nằm trong tay một người sẽ tất yếu dẫn đến lạm quyền và để loại trừ khả năng đó, theo Mông-Téc-ki-ơ, cần thành lập một trật tự trong đó quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập và kiềm chế lẫn nhau (tiêu biểu như Hoa Kỳ). Mỗi quyền lực phải thuộc một giai cấp. Kế thừa hạt nhân của thuyết phân chia quyền lực và tổng kết kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, Mác và Ăng-ghen cho rằng: trong xã hội có đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thực chất nằm trong tay giai cấp bóc lột. Khi chế độ bóc lột bị lật đổ, thì quyền lực nhà nước tập trung về tay nhân dân và một khi nhân dân lao động đã tốn bao xương máu mới giành được chính quyền về tay mình lại tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập, đem quyền lực nhà nước chia cho kẻ từng áp bức mình hoặc không cùng chí hướng với mình thì chẳng khác nào "tự đem gông tròng vào cổ mình".
Ba là, các thế lực thù địch cho rằng, thực hiện đa nguyên chính trị mới có dân chủ còn nhất nguyên chính trị thì không. Trong thế giới ngày nay có sự hiện diện cả chế độ nhất nguyên chính trị và đa nguyên chính trị, đối với từng quốc gia, hệ thống quyền lực chính trị nào được tổ chức theo hình thức nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể vào mỗi quốc gia đó. Vấn đề ai được hưởng các quyền dân chủ? Trong chế độ đa nguyên chính trị, dân chủ chỉ có đối với thiểu số bóc lột. Còn trong chế độ chính trị nhất nguyên ở các nước XHCN, dân chủ đối với đa số nhân dân lao động.
Được chủ nghĩa Mác - Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, bằng những trải nghiệm đầy xương máu và nước mắt, chúng ta khẳng định nước Việt Nam không có chỗ đứng cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, bởi nếu thực hiện đa nguyên chính trị chẳng khác nào "tự giết mình".
 

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA QUÂN ĐỘI TA

Lê Văn Hòa
Chiến lược "Diễn biến hoà bình" là một "kiểu chiến tranh xâm lược kiểu mới" của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, thiết lập trật tự mới do Mỹ kiểm soát. Trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của Mỹ chống Việt Nam, quân đội ta là một mục tiêu tấn công quan trọng của chúng. Với mục tiêu tìm cách "phi chính trị hoá" quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén của Đảng ta. Vì vậy, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu của kẻ thù, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp công nhân của quân đội là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của Đảng, Nhà nước và quân đội ta.
Thực hiện "Diễn biến hoà bình" đối với cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường tuyên truyền đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn, tự do vô chính phủ... Đối với quân đội ta, chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng, đòi "phi chính trị hoá" quân đội, quân đội chỉ phục tùng Nhà nước, nhằm làm phai mờ, suy giảm bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân, tiến tới làm tan rã quân đội ta.
    Đặc trưng của chiến lược "Diễn biến hoà bình" là sử dụng các biện pháp phi quân sự là chủ yếu, nhưng chủ nghĩa đế quốc vẫn coi việc giành ưu thế quân sự là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi, vì thế chúng ra sức tăng cường sức mạnh quân sự để răn đe và sẵn sàng can thiệp vũ trang, tiến công quân sự khi có thời cơ.
Thực hiện chiến lược "Diễn biến hoà bình", chúng tìm mọi cách làm xói mòn bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta, "phi chính trị hoá", "vô hiệu hoá" quân đội, trước hết, tập trung chống phá quân đội ta về tư tưởng. Trong cuốn "Chớp lấy thời cơ, thách thức đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường", R. Ních- xơn khẳng định: "Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước mậu dịch, viện trợ và các quan hệ văn hoá sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".
Mục tiêu phá hoại về tư tưởng của kẻ thù đối với quân đội ta là làm cho quân đội xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Các thủ đoạn chúng thường dùng để phá hoại bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta là sử dụng hệ thống phương tiện thông tin hiện đại, công khai, cùng với việc lén lút lưu hành tài liệu phản động và các kiểu thông tin truyền miệng xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa; tán dương chế độ tư bản; cổ vũ thuyết "đa nguyên, đa đảng", tuyên truyền cho "chủ nghĩa xã hội dân chủ"...
Gần đây, một số phần tử phản động trong nước được Mỹ tiếp tay đã trắng trợn đòi xét lại đường lối cách mạng của Đảng ta. Chúng cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng cố tình xóa nhòa ranh giới giữa quân đội ta - một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, với quân ngụy tay sai đế quốc, rồi lên án cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là chiến tranh "vô nghĩa", "hao người tốn của”... nhằm phủ nhận bản chất, truyền thống của quân đội ta.
Kẻ thù cũng biết rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, truyền thống và sức mạnh của quân đội ta nên chúng tăng cường tuyên truyền kích động đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ chính trị trong quân đội, thường xuyên rêu rao quân đội là tổ chức trung lập, đứng ngoài chính trị, quân đội không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một chính đảng nào!...
Các thế lực thù địch cũng rất chú trọng tác động vào lối sống của cán bộ,  chiến sĩ quân đội. Lợi dụng những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế của chúng ta, chúng tìm cách tác động, đưa những yếu tố tiêu cực xâm nhập vào trong  quân đội. Chúng cổ động tâm lý tự do, bất chấp kỷ cương, vô kỷ luật, lối suy nghĩ vị kỷ, chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, lối sống buông thả, đồng thời gây tâm lý bi quan, làm giảm sút ý chí chiến đấu... hòng làm phai nhạt dần hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ". Chúng kích động, gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, quân đội với công an, cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ với chiến sĩ... hòng phá hoại tinh thần đoàn kết gắn bó quân dân, đoàn kết cán - binh, đoàn kết hiệp đồng giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Cho đến nay có thể khẳng định, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong quân đội ta vẫn được giữ vững và phát huy, nhưng cần nhận thấy những hiện tượng tiêu cực trái với bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội đã xuất hiện trong một số quân nhân những biểu hiện như: Dao động niềm tin, tư duy thực dụng, tham nhũng, vi phạm kỷ luật... Những hiện tượng này do sự tha hoá, kém ý thức phấn đấu rèn luyện của người quân nhân cách mạng và do sự buông lỏng quản lý giáo dục của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Nhưng có mặt do sự tác động phá hoại bằng chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù.
Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của quân đội ta, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:
Một là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và những đợt học tập, sinh hoạt chính trị tại cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Trên cơ sở đó xây dựng xây dựng thế giới quan Mác - Lênin, phương pháp luận khoa học, niềm tin cộng sản chủ nghĩa cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Làm cho quân đội ta luôn luôn giữ vững và phát huy truyền thống "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội", mọi quân nhân luôn kiên định vững vàng, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, không bị "tự diễn biến" trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.
          Hai là, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, công tác giáo dục lý luận chính trị, thông tin kịp thời và có định hướng rõ ràng về những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp đang đặt ra; trang bị những tri thức về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cho cán bộ, chiến sĩ, kiên quyết đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái và phản động. Khắc phục mọi biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, dao động, mất cảnh giác trước âm mưu thâm độc, nham hiểm của kẻ thù.
        Ba là, thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, trước hết là quản lý tư tưởng cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Cán bộ, chiến sĩ đi công tác xa đơn vị phải kết hợp tốt giữa việc tự quản lý lẫn nhau với công tác quản lý của đơn vị. Thực hiện chặt chẽ các quy định trong tuyển quân, xây dựng nguồn đào tạo sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, tuyển dụng công nhân viên quốc phòng và công tác kết nạp đảng viên trong quân đội...
       Bốn là, chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là hạt nhân chính trị trong lãnh đạo việc củng cố, giữ vững trận địa tư tưởng vô sản trong đơn vị. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, trước hết phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, nói, viết và làm theo Nghị quyết của Đảng. Luôn đứng vững trên lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân để xem xét, giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nhạy bén, sắc sảo, chủ động, kịp thời đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác -  Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
 

“TÁI CÂN BẰNG” CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG: GIẢM TỐC ĐỂ SỬA SAI?

(Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, Trung Quốc, số 2/2013)
Chiến lược “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương là biện pháp mang tính bước ngoặt quan trọng của việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Mỹ Barack Obama.
Chiến lược này dựa trên giả thiết “Tương lai của châu Á-Thái Bình Dương ngày càng liên quan đến tương lai của Mỹ” và sự thực về việc bố trí quyền lực mất cân bằng trên toàn cầu của Mỹ (coi trọng Trung Đông, xem nhẹ châu Á-Thái Bình Dương); mong muốn tăng cường tiếp xúc toàn diện với các nước châu Á trên các linh vực chính trị, kinh tế và an ninh: về chính trị, lợi dụng sự bất đồng giữa các nước châu Á-Thái Bình Dương để thực hiện “ngoại giao tiền duyên” về an ninh lợi dụng sự “lo ngại” về tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á. .. để thực hiện sự “quay trở lại” bằng quân sự; về kinh tế, lợi dụng sự không đầy đủ của các cơ chế trong khu vực châu Á để thúc đẩy mở rộng “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Mỹ tuyên bố mục tiêu của chiến lược “tái cân bằng” là duy trì sự ổn định và hòa bình của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng trên thực tế lại tạo ra sự căng thẳng và rối ren mới, trong nước Mỹ và cộng đồng quốc tế đã có không ít tiếng nói phê phán đối với chiến lược này, bước tiếp theo của chiến lược “tái cân bằng sẽ điều chỉnh ra sao đã đưa tới sự quan tâm rộng rãi của các học giả.
I. Sự thay đổi và điều chỉnh nhỏ của chiến lược “tái cấn bằng”
Từ bài diễn thuyết gần đây của Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon tại Hiệp hội châu Á và chuyến thăm châu Á đầu tiên của tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry có thể thấy luận điệu của Mỹ về việc thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” có phần giảm xuống, trong tiết tấu, nội dung và phương pháp đều xuất hiện sự điều chỉnh và thay đổi nhỏ.
1. Giọng điệu giảm xuống, ngôn từ có xu hướng ôn hòa
Khác với kiểu ngoại giao mang tính di sản như khi rút quân khỏi Iraq và Afghanistan, Chính quyền Obama cho rằng lần điều chỉnh này là biện pháp có ý nghĩa sáng tạo thực sự về ngoại giao của mình, vì vậy giọng điệu rất hùng hồn. Tại Nhật Bản, Obama từng tự cho rằng “mình là vị tổng thống đâu tiên của Thái Bình Dương trong lịch sử Mỹ”, “Mỹ đã và sẽ luôn là một quốc gia Thái Bình Dương trong tương lai”, “sẽ phát huy vai trò lâu dài và lớn hơn cho việc xây dựng khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tương lai của khu vực này”. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lần lượt đưa ra một loạt khái niệm nhận được sự quan tâm của mọi người như Mỹ “quay trở lại và thường trú tại châu Á”, “Ngoại giao tiền duyên”, “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, “Chuyển hướng chiến lược”… Bộ Quốc phòng Mỹ thì nhân cơ hội này thúc đẩy kế hoạch bố trí quân sự mới, đồng thời trong “Báo cáo đánh giá về chiến lược quốc phòng mới” chính thức đưa ra khái niệm “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khi giải thích về việc Mỹ và Australia tăng cường hợp tác quân sự, Phó Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Ben Rhodes tỏ rõ hành động của Mỹ là “do nhu cầu đến từ bên trong khu vực”, “các nước trong khu vực này đã bầy tỏ, họ hy vọng sự hiện diện của Mỹ, và hy vọng tăng cường quan hệ đối tác với Mỹ trên nhiều mặt và tình hình”.
Nhưng gần đây, lời lẽ của giới chính trị Mỹ khi giải thích về chiến lược “tái cân bằng” có xu thế ôn hòa một cách rõ rệt. Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon không chỉ trực tiếp giải thích ý nghĩa của chiến lược “tái cân bằng”, mà còn gián tiếp nêu rõ chiến lược “tái cân bằng” “không có nghĩa là mối quan hệ giữa Mỹ với các đối tác quan trọng ở khu vực khác sẽ yếu đi, đồng thời không muốn kiềm chế Trung Quốc hoặc chỉ huy đối với khu vực châu Á, chiến lược này cũng không chỉ là vấn đề hiện diện quân sự”. Khi đọc diễn văn về “Quan hệ đối tác Thái Bình Dương trong thế kỷ 21” tại Nhật Bản, Tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry chỉ đề cập đến vấn đề “tái cân bằng” có một lần, “Tổng thống Obama đã đưa ra cam kết chiến lược sáng suốt, sự hứng thú và đầu tư của Mỹ sẽ tái cân bằng vào châu Á”. Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter nhấn mạnh tăng cường đầu tư chiến lược đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương là chỉ “các ban ngành chính phủ sẽ tái cân bằng thời gian, tinh lực, trí lực cũng như các nguồn lực khác vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, chiến lược “tái cân bằng” không nhằm vào bất kỳ một quốc gia nào, cũng không nhằm vào bất kỳ tập đoàn quốc gia nào.
2. Điều chỉnh tiết tấu, nguồn lực và tinh lực để quay trở lại một cách thích hợp
Tháng 12/2012, ngay sau khi Obama tranh cử thành công nhiệm kỳ thứ hai đã chọn châu Á làm nơi đi thăm nước ngoài đầu tiên, trước khi tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á, Obama đến thăm 3 nước Thái Lan, Myanmar và Campuchia Hành động này thông thường được hiểu là ngoại giao trong nhiệm kỳ mới của Obama vẫn sẽ tập trung vào khu vực châu Á, Giám đốc Chương trình nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu vấn đề quốc tế và chiến lược Mỹ (CSIS) Ernest Z. Bower nêu rõ: “Hành động đã chiến thắng những lời nói suông, chuyến thăm của Obama cho thấy trong nhiệm kỳ thứ hai, Obama vẫn coi trọng châu Á như trước kia”, về tính chất lâu dài của chiến lược “tái cân bằng” mà nói, sự phán đoán này hoàn toàn phù hợp với lôgích, nhưng hành động này của Obama cũng đã đặt dấu chấm mang tính giai đoạn đối với ngoại giao khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ thứ nhất của mình, làm cơ sở cho việc làm chậm lại và điều chỉnh tiết tấu của chiến lược “tái cân bằng”. Tại phiên điều trần trước Thượng viện Mỹ, khi đề cập đến chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bầy tỏ “việc mở rộng sự hiện diện quân sự vẫn chưa phải là việc rất quan trọng”, số lượng căn cứ quân sự và quân đội của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương đều “nhiều hơn so với bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới bao gồm cả Trung Quốc”. Tại phiên điều trần bổ nhiệm mình, tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel bầy tỏ “việc ‘tái cân bằng’ khu vực châu Á-Thái Bình Dương là rất quan trọng đối với lợi ích của Mỹ trong tương lai”, nhưng đồng thời cho rằng có thể lợi dụng sức mạnh của lực lượng không quân, hải quân và sự phân bố địa lý hợp lý của lực lượng mặt đất của Mỹ để tiến hành “tái cân bằng”, không cần phải hy sinh sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông.
Hai thành viên mới của nội các Mỹ, một người nhấn mạnh Mỹ không cần phải gấp rút tăng quân tới châu Á-Thái Bình Dương, một người thì nhấn mạnh không thể lấy việc hy sinh sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông làm cái giá phải trả để thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương, hai người đều đã bộc lộ đường lối điều chỉnh tiết tấu của chiến lược “tái cân bằng”. Tại phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ, khi tiến hành đánh giá về “tái cân bằng” và “chuyển hướng”, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS) Janine Davidson nêu rõ “tái cân bằng” phù hợp hơn “chuyển hướng”, vì “tái cân bằng” thể hiện rõ là một “quá trình tiệm tiến”, chứ không phải là “hành động bố trí lực lượng quân sự bất ngờ đơn giản”, thể hiện thái độ đồng tình của học giả đối với việc chuyển dịch quân sự sang phía Đông một cách tiệm tiến, vững chắc. Chuyến thăm đầu tiên sau khi John Kerry chính thức nhậm chức ngoại trưởng Mỹ là châu Âu và Trung Đông, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên sau khi Tổng thống Obama chính thức điều hành Nhà Trắng trong nhiệm kỳ thứ hai cũng là Trung Đông, điều này chứng tỏ trong sự lựa chọn đối với hai vấn đề chiến lược lớn là “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương và xử lý vấn đề Trung Đông, Chính quyền Obama sẽ xác định lại thứ tự ưu tiên thực hiện. Tính chất lâu dài và tính chiến lược của vấn đề châu Á-Thái Bình Dương có ý nghĩa to lớn hơn, nhưng tính cấp bách của vấn đề Trung Đông lại lớn mạnh hơn.
3. Biện pháp “tái căn bằng” từ chỗ chú trọng ngoại giao và quân sự chuyển sang chú trọng lĩnh vực phát triển kinh tế, nhấn mạnh thúc đẩy cân bằng
Do tiến độ thúc đẩy “tái cân bằng” quân sự và ngoại giao tương đối nhanh, nên tình hình bố trí quân sự và ngoại giao của Mỹ tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương cơ bản đã định hình, nhưng từ tổng thể, ý nghĩa mang tính tượng trưng lớn hơn ý nghĩa chính trị và quân sự thực tế. Chiến lược “tái cân bằng” trong giai đoạn đầu của Mỹ chủ yếu dựa vào việc vận dụng “sức mạnh thông minh”, nhưng đàm phán TPP trên lĩnh vực thương mại vẫn còn lâu mới kết thúc, vì vậy, xét từ tính cân bằng trong nội dung chiến lược “tái cân bằng” mà nói, “sự kết dính” trên lĩnh vực kinh tế và phát triển còn thiếu hụt nghiêm trọng. Gần đây, chính phủ và người dân Mỹ đều nhấn mạnh “tái cân bằng” không chỉ là vấn đề hiện diện quân sự, mà là một chiến lược tổng hợp bao gồm tất cả các yếu tố như “quân sự, chính trị, thương mại, đầu tư, phát triển và quan niệm giá trị.. Nhân dịp đến thăm châu Á, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã khái quát lại bốn nguyên tắc “tăng trưởng công bằng, tăng trưởng rộng rãi, tăng trưởng bền vững và tăng trưởng dân chủ” do Tổng thống Obama đưa ra thành “tăng trưởng mạnh mẽ, tăng trưởng công bằng, tăng trưởng khôn khéo và tăng trưởng hợp lý”, cố tình tăng thêm sắc thái phát triển của chiến lược “tái cân bằng”.
Trên thực tế, xu thế này đã được thể hiện rõ trong giai đoạn cuối của nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama. Năm 2012, Mỹ và ASEAN tuyên bố hoạch định kế hoạch mở rộng hợp tác kinh tế, coi “Thỏa thuận tiện lợi hóa thương mại Mỹ-ASEAN”, “Hiệp định đầu tư song phương Mỹ-ASEAN” và “Thỏa thuận công nghệ thông tin và tin học Mỹ-ASEAN” là những nội dung trọng điểm thảo luận trong chương trình nghị sự; công bố kế hoạch về “Quan hệ đối tác hợp tác toàn diện giữa Mỹ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương hướng tới tương lai năng lượng bền vừng”, Mỹ có kế hoạch hỗ trợ 6 tỷ USD cho dự án này, trong đó trong 4 năm tới, Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ sẽ hỗ trợ 5 tỷ USD với lãi suất ưu đãi cho khu vực này và Tập đoàn đầu tư nước ngoài (OPIC) ủng hộ 1 tỷ USD cho việc xây dựng cơ cở hạ tầng năng lượng bền vững. Từ đó có thể thấy lĩnh vực thương mại, đầu tư và phát triển sẽ trở thành nội dung trọng điểm của chiến lược “tái cân bằng” trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Barack Obama, và trở thành một xu thế lâu dài.
4. Về vấn đề tranh chấp lãnh thổ châu Á, chuyển từ gây chia rẽ sang quản lý kiểm soát
Với phong cách ngoại giao mạnh mẽ trong thời gian đảm nhiệm chức vụ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, cộng thêm việc Mỹ ra sức thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” quân sự đã khiến giọng điệu của Mỹ có lúc rất gay gắt khi can thiệp vào tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước xung quanh, như Ngoại trưởng Hillary Clinton ngang nhiên gọi Biển Đông là “Biên Tây Philippines”; trong vấn đề đảo Điếu Ngư (Senkaku), phá vỡ chính sách truyền thống không giữ lập trường về quyền chủ quyền, tuyên bố Mỹ “công nhận đảo Điếu Ngư trong phạm vi quản lý hành chính của Nhật Bản, phản đối bất kỳ một hành động đơn phương nào tìm cách phá hoại sự quản lý hành chính của Nhật Bản”, trang mạng của tạp chíForbes Mỹ gọi hành động này là “món quà chia tay” mà Hillary Clinton tặng cho Nhật Bản; về tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, Bộ Ngoại giao Mỹ lần đầu tiên ra tuyên bố về vấn đề Biển Đông, đơn phương chỉ trích phương án thành lập thành phố Tam Sa và Ban chỉ huy quân sự Tam Sa của Trung Quốc đã “làm trầm trọng thêm” tình hình căng thẳng của khu vực Biển Đông, hành động này lại một lần nữa đã phá vỡ lập trường “không can dự”, “không lựa chọn một bên nào” của Chính phủ Mỹ đối với vấn đề Biển Đông.
Từ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Obama đến nay, lời nói và hành động của Chính phủ Mỹ về vấn đề tranh chấp lãnh thổ châu Á chuyển sang thận trọng. Trong thời gian Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida đến thăm Mỹ Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã đánh giá cao việc Nhật Bản duy trì sự kiềm chế trong vấn đề đảo Điếu Ngư, và không đề cập đến “Hiệp ước bảo đảm an ninh Mỹ-Nhật”; trong thời gian đến thăm Mỹ, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe liên tiếp đề cập đến vấn đề đảo Điếu Ngư, nhưng vẫn không nhận được sự hồi âm của Obama. Lập trường của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry về vấn đề đảo Điếu Ngư trong thời gian đến thăm Nhật Bản có thể khái quát thành: Mỹ không giữ lập trường về chủ quyền cuối cùng của đảo Điếu Ngư, nhưng công nhận đảo Điếu Ngư nằm trong sự -quản lý của Nhật Bản; hy vọng các bên giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ thông qua phương thức hòa bình; bất kỳ hành động nào làm cho tình hình căng thẳng, leo thang hoặc phán đoán sai lầm đều ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định và phồn vinh của toàn khu vực; phản đối bất kỳ hành động đơn phương hoặc mang tính cưỡng chế nào lấy việc thay đổi hiện trạng làm mục tiêu. Khi đến thăm Indonesia, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng cho rằng “Mỹ không giữ lập trường về vấn đề chủ trương lãnh thổ và lịch sử tranh chấp giữa các bên, nhưng giữ lập trường về vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế”, “kêu gọi kiềm chế và giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoại giao, phản đối khiêu khích, gây sức ép và sử dụng vũ lực”. Chuyên gia Michael Auslin của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) cho rằng cần khích lệ Nhật Bản kiên trì chủ trương của nước này, kêu gọi Shinzo Abe cam kết Nhật Bản không nổ súng trước trong vấn đề đảo Điếu Ngư. Hiển nhiên, Mỹ tìm cách trên cơ sở duy trì hiện trạng, thông qua gây sức ép với hai phía để tiến hành quản lý và kiểm soát tranh chấp.
5. Việc xác định vai trò của Trung Quốc có phần chuyển sang hướng tích cực
Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Obama, trong khuôn khổ chiến lược “tái cân bằng”, việc xác định vai trò của Trung Quốc thiên về phản diện, tiêu cực. Trong diễn văn “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton từng cho rằng từ mặt chính diện cho thấy quan hệ Trung-Mỹ chỉ là một cặp quan hệ ngoài hệ thống đồng minh của Mỹ, trong quan hệ đối tác với rất nhiều nước mới nổi. nhưng từ mặt phản diện hoặc tiêu cực cho thấy lại là cặp “quan hệ song phương mà Mỹ chưa từng quản lý, mang tính thách thức lớn nhất và hậu quá lớn nhất”. Trong “Báo cáo đánh giá chiến lược quốc phòng mới” của Mỹ, vì Trung Quốc thực hiện chiến lược “chống tiếp cận xâm nhập khu vực” (A2/AD) nên đã bị liệt vào là “đối thủ tiềm tàng”, tạo nên thách thức đối với việc điều chuyển binh lực của Mỹ, “Trung Quốc trỗi dậy thành nước lớn khu vực sẽ khiến cho nước này có khả năng tiềm tàng ảnh hưởng đến kinh tế và an ninh của Mỹ từ các mặt khác nhau . Tóm lại, về chính trị Mỹ coi Trung Quốc là lực lượng mang tính không xác định và nước thách thức tiềm tàng địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ; về quân sự, coi Trung Quốc là đối thủ và nước cạnh tranh chiến lược tiềm tàng của Mỹ; về kinh tế, coi Trung Quốc là nước cạnh tranh “không tuân thủ quy tắc.
Từ những phát biểu gần đây của giới chính trị Mỹ cho thấy việc xác định vị trí quan hệ Trung-Mỹ của Mỹ trong khuôn khổ “tái cân bằng” có dấu hiệu chuyển sang tích cực. Khi đọc diễn văn tại Hiệp hội châu Á, Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon lần đầu tiên đưa “việc thiết lập quan hệ Trung-Mỹ mang tính xây dựng” vào trụ cột thứ ba trong chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ, đồng thời đưa ra sự hưởng ứng rõ ràng và tích cực đối với sáng kiến xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới của Trung Quốc, cho rằng “việc cố gắng xây dụng mối quan hệ kiểu mới giữa các nước lớn hiện nay với các nước lớn đang trỗi dậy là trách nhiệm chung của Trung Quốc và Mỹ . Khi diễn thuyết tại Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng cho rằng “Xây dựng và duy trì quan hệ hợp tác tích cực với Trung Quốc là điều rất quan trọng đối với sự thành công của chiến lược ‘tái cân bằng”. Những thay đổi nêu trên cho thấy Mỹ ngày càng nhận thức được rằng việc xử lý tốt quan hệ Trung-Mỹ là một trong những nhân tố then chốt quan trọng quyết định liệu chiến lược châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ có thể thành công hay không?
II. Nguyên nhân đưa tới những điều chỉnh và thay đổi nhỏ
Bắt đầu từ nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát ra tín hiệu tiến hành điều chỉnh đối với chiến lược “tái cân bằng”, nguyên nhân chủ yếu là do sự kiểm soát và quản lý chiến lược sai lệch của giai đoạn trước, khiến cho chiến lược “tái cân bằng” đưa tới hiệu ứng tiêu cực ngoài dự đoán và khó kiểm soát cho Mỹ; đồng thời, nhiệm kỳ mới của chính phủ cũng có nhu cầu chính trị muốn có sự thay đổi.
1. Tính bền vững của chiến lược “tái cân bằng” bị hoài nghi
Thực chất của việc Chính quyền Obama điều chỉnh chiến lược toàn cầu là thu hẹp chiến lược, mục tiêu căn bản là giải quyết sự mở rộng chiến lược quá mức do hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan gây ra cho Mỹ. “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” năm 2010 nêu rõ phải thông qua việc phục hồi nền tảng thực lực của Mỹ để khôi phục địa vị lãnh đạo toàn cầu. Vì vậy, báo cáo chiến lược quốc phòng mới nêu rõ điều chỉnh nhiệm vụ tác chiến của quân đội Mỹ từ “đồng thời đánh thắng 2 cuộc chiến tranh” thành “1,5 cuộc chiến tranh”, tức là “đồng thời với việc quân đội Mỹ tiến hành tác chiến trên quy mô lớn ở một khu vực, phải có khả năng không khiến cho nước xâm lược thực hiện mục đích ở một khu vực khác, hoặc khiến cho nước xâm lược phải trả cái giá khó có thể chịu đựng”. Từ bối cảnh chiến lược lớn này mà nói, mặc dù “chiến lược tái cân bằng” nhằm chuyển nguồn lực chiến lược từ việc rút khỏi Iraq và Afghanistan sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng sự chuyển dịch nguồn lực này phải lấy việc không đột phá ranh giới cuối cùng của việc thu hẹp chiến lược làm giới hạn. Nhưng do Chính quyền obama khuếch trương thanh thế quá mức, chiến lược “tái cân bằng” vốn phải triển khai lâu dài đã được thực hiện vội vã vì lợi ích trước mắt, khiến cho tính khuếch trương chiến lược này tăng lên, nhanh chóng tăng thêm nhu cầu đối với việc đầu tư nguồn lực.
Bên cạnh đó, tài chính Mỹ đứng trước những khó khăn cắt giảm ngân sách. Do cơ chế cắt giảm thâm hụt của Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực, trong 10 năm tới, Chính phủ Mỹ dự định lại cắt giảm 500 tỷ USD trên cơ sở đã cắt giảm 471 tỷ USD, trong đó chi phí quốc phòng chiếm đại đa số. Chịu ảnh hưởng của cơ chế này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã bắt đầu cắt giảm các chuyến đi công vụ và chi phí duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng; thậm chí có thể giảm biên chế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cho rằng “một trong những vấn đề lớn nhất mà việc cắt giảm ngân sách tạo nên đó là việc nhanh chóng cắt giảm chi tiêu với quy mô lớn, điều này có nghĩa là Bộ Quốc phòng sẽ phải xem xét việc thông qua cắt giảm một cách mạnh mẽ các hoạt động quân sự và các khoản chi hiện đại hóa thì mới có thể thực hiện mục tiêu này”, điều này sẽ liên quan đến việc chi tiêu của các hoạt động quân sự trọng tâm, và thay đổi vai trò và sứ mệnh truyền thống của quân đội”. Cho dù Chính phủ Mỹ nhiều lần nhấn mạnh chiến lược “tái cân bằng” sẽ không chịu ảnh hưởng bởi việc cắt giảm ngân sách, trong thời gian đến thăm các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Indonesia… Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng tìm cách xóa bỏ sự lo ngại hoài nghi của những nước này đối với việc chiến lược “tái cân bằng” thiếu kinh phí hoạt động, nhưng “cho dù các quan chức chính phủ nói như thế nào, việc cắt giảm ngân sách quốc phòng sẽ tạo thành ảnh hưởng sâu sắc đối với tình hình quân sự của Mỹ ở châu Á”. Khi điều trần trước Hội đồng đánh giá an ninh kinh tế Trung-Mỹ, chuyên gia của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) Michael Auslin nêu rõ các nước châu Á hiểu rõ vấn đề suy thoái kinh tế, khó khăn ngân sách của Mỹ, và “hiểu rõ cơ chế cắt giảm ngân sách của Mỹ”, vì vậy họ không tin tưởng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ có những thay đổi mang tính thực chất, “nói quá lên một chút thì đó là Chính quyền Obama đang phải đối diện với việc thiếu hụt lòng tin ở châu Á”, các nước châu Á đang quan sát một cách thận trọng việc liệu Mỹ có thể thực hiện “lời nói đi đôi với hành động” hay không?
2. Tình hình Trung Đông và Đông Bắc Á buộc Mỹ phải toan tính một cách thận trọng
Dự tính ban đầu của việc Mỹ thực hiện chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương là chuyển trọng tâm bố trí nguồn lực chiến lược từ Trung Đông sang châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương chuyển dịch từ Đông Bắc Á sang Đông Nam Á. Nhưng từ tình hình thực hiện của chiến lược này trong 3 năm qua cho thấy việc bố trí tài nguyên chiến lược của Mỹ trong thời gian ngắn khó có thể thực hiện sự chuyển dịch thuận lợi, và càng không thể nhanh chóng thực hiện.
Về vấn đề Trung Đông, việc Mỹ rút quân khỏi Iraq không có nghĩa là các lợi ích chiến lược như dầu mỏ, chống khủng bố, mở rộng dân chủ, an ninh đồng minh… của Mỹ ở khu vực Trung Đông cũng sẽ rút theo, trái lại, do phong trào “Mùa Xuân Arập”, cuộc chiến Libya cũng như nội chiến Syria, toàn khu vực Trung Đông vẫn đang rối ren, khiến môi trường bảo vệ lợi ích chiến lược của Mỹ ở Trung Đông càng thêm phức tạp. Để tránh bị cuốn vào vấn đề Syria trên quy mô lớn, Mỹ luôn dựa vào biện pháp đa phương để quản lý và kiểm soát tình hình, tìm cách lợi dụng các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Hội nghị quốc tế “Những người bạn của Syria” và các tổ chức khu vực như Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) để gây sức ép với Chính phủ Syria, và hợp tác với lực lượng phe đối lập Syria, còn sáng kiến thiết lập vùng cấm bay tại Syria của các nước như Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ… , đều bị Mỹ từ chối. Chính sách can dự có giới hạn này của Obama đứng trước sự phê phán ngày càng gay gắt ở trong nước, họ chỉ trích Chính quyền Obama dung túng cho việc “tàn sát”, thực hiện “tiêu chuẩn kép” trong vấn đề Libya và Syria.
Về vấn đề hạt nhân Iran, Chính quyền Netanyahu của Israel đang dần dần mất đi sự nhẫn nại, để làm yên lòng Israel, Mỹ buộc phải tiếp tục duy trì lực lượng răn đe quân sự hùng mạnh ở khu vực vùng Vịnh. Bộ Tư lệnh trung ương Mỹ cho rằng tổng cộng đã có 125.000 quân Mỹ được bố trí gần Iran, trong đó có 90.000 quân được bố trí ở Afghanistan và khu vực xung quanh, 20.000 quân được bố trí ở khu vực Trung Đông, 15.000 đến 20.000 quân đang đợi lệnh trên các tầu chiến; hai tầu sân bay của hải quân Mỹ tiếp tục đóng giữ vùng Vịnh và biển Arập, bố trí tầu vận tải lưỡng dụng USS Ponce làm cơ sở hậu cần cho máy bay trực thăng quét mìn, tầu cao tốc và lực lượng đột kích; tại căn cứ không quân Al Dhafra của Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Mỹ đã bố trí máy bay chiến đấu tảng hình F-22 Raptor “Chim ăn thịt” tiên tiến nhất, máy bay tiếp dầu KC-10, máy bay do thám U-2 và các loại máy bay do thám không người lái như Global Hawk….
Sáu tháng cuối năm 2012, Trung Đông lại bùng nổ làn sóng chống Mỹ mới tại Libya, Ai Cập, Yemen, Tunisia, Maroc, Sudan, Iran, Iraq, Palestine liên tục diễn ra các cuộc biểu tình phản đối Mỹ; Đại sứ của Mỹ tại Libya Christopher Stevens thiệt mạng vì bị tấn công khủng bố; Palestine và Israel bùng nổ cuộc xung đột vũ trang mới. Tình hình Trung Đông liên tục rối ren, khiến cho chiến lược “tái cân bằng” “nói thì dễ mà làm thì khó”.
Sự kiềm chế của tình hình bán đảo Triều Tiên đối với Mỹ cũng có gì đó giống như vấn đề Trung Đông. Từ đầu năm 2013 đến nay, trước việc Triều Tiên phóng thử vệ tinh và thử nghiệm hạt nhân lần thứ 3, Mỹ và Hàn Quốc đã phản ứng mạnh mẽ tăng cường răn đe, cuộc khủng hoảng của bán đảo Triều Tiên tăng lên, đến mức chưa từng có. Điều này cũng khiến cho Mỹ phải tỏ ra thận trọng khi tiến hành chuyển trọng tâm chiến lược sang Đông Nam Á, khi cần thiết thậm chí có thể điều chỉnh lại chiến lược.
3. Rủi ro của việc Mỹ bị lôi cuốn vào cuộc xung đột khu vực tăng lên do việc làm thiếu thận trọng của một số nước
Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama, sắc thái quân sư trong chiến lược “tái cân bằng” rất được mọi người chú ý, Mỹ đã liên tiếp áp dụng các hành động quân sự vừa có ý nghĩa tượng trưng và vừa có ý nghĩa chiến thực tế: cử 2.500 lính thủy đánh bộ đến đồn trú tại Australia- tỷ lệ số lượng tầu chiến của hải quân Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương tăng từ 52% lên 60%; ưu tiên bố trí tầu chiến và trang thiết bị vũ khí tiên tiến nhất đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như kế hoạch điều 12 máy bay Osprey tới căn cứ Futenma ở Okinawa, máy bay chiến đấu tàng hình F-35 và máy bay trinh sát chống ngầm “Thần biển” đến Okinawa, sử dụng máy bay trinh sát không người lái “Global Hawk” của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Guam để giám sát tầu chiến của Trung Quốc và tầu thuyền của các nước khác triển khai trạm giám sát mặt đất trang bị rađa “C-band” không quân và bố trí kính viễn vọng giám sát không gian tại Australia; quay trở lại căn cứ hải quân ở vịnh Subie của Philippines… Báo cáo của Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) cho rằng “lĩnh vực quân sự là bộ phận có nội dung mang tính thực chất nhất trong chiến lược ‘tái cân bằng mà chính phủ tuyên bố”.
Điều rất quan trọng là mọi hành động “tái cấn bằng” quân sự của Mỹ phần lớn bị cho là “bao vây” Trung Quốc. “Cho dù các nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ thường phủ nhận điều này, nhưng trên thực tế, quân đội Mỹ đang ra sức kiềm chế Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương”. Quan điểm này đều rất phổ biến ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và các khu vực khác trên thế giới, khiến cho các nước tồn tại tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc cho là có cơ hội có thể lợi dụng, muốn dựa vào sức mạnh của Mỹ để thách thức Trung Quốc. Việc Philippines gây ra sự kiện đối đầu ở bãi cạn Scarborough và Nhật Bản diễn màn kịch “mua đảo”, đều là sự phản ánh của tâm lý đầu cơ này. Mỹ phát ra tín hiệu sai lầm khiến cho những quốc gia này nẩy sinh sự mong đợi quá mức đối với Mỹ, họ hy vọng Mỹ không chỉ nói ngoài miệng, mà phải ủng hộ mạnh mẽ đồng minh trong các hành động thực tế. Mỹ vì nhân tố tứ 3 mà bị cuốn vào xung đột với Trung Quốc thậm chí là rủi ro chiến tranh cũng ngày càng tăng lên, và đây là cục diện Mỹ không muốn nhìn thấy nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Ngoài ra, cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ cũng gây nên sự lo ngại của một số quốc gia châu Á, họ không muốn bị ép buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Sự thay đổi thái độ của Singapore đối với chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ đã phản ánh tình hình này. Năm 2009, chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ vẫn chưa công khai, trong thời gian diễn ra hội nghị “Hội đồng thương mại Mỹ-ASEAN”, Bộ trưởng cố vấn trong nội các Singapore Lý Quang Diệu nhắc nhở Mỹ: “nếu không đến châu Á để kiềm chế và cân bằng sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc, Mỹ sẽ có nguy cơ mất đi địa vị lãnh đạo toàn cầu”. Nhưng sau 4 năm Lý Quang Diệu lại khuyên Mỹ: “nếu Mỹ tìm cách làm nhục Trung Quốc, gây sức ép với Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ”, “sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ là không thể tránh khỏi, nhưng xung đột lại có thể tránh khỏi” Hiển nhiên, từ góc độ các nước nhỏ châu Á cho thấy việc buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ không phù hợp với lợi ích của họ, sự cạnh tranh ở mức độ thích hợp, có thể kiểm soát giữa Trung Quốc và Mỹ mới là lợi ích tốt nhất của họ.
4. Sự nghi ngờ về mặt chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng tăng, thúc đẩy Mỹ xem xét lại chính sách đối với Trung Quốc
Một quan điểm rất phổ biến của phương Tây cho rằng từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính đến nay, sự ngạo mạn của Trung Quốc tăng lên, cho rằng “Mỹ sức cùng lực kiệt về kinh tế ngày càng không thể tiếp tục ở lại châu Á”, vì vậy về ngoại giao chuyển sang cứng rắn, gây nên sự lo ngại phổ biến của các nước châu Á-Thái Bình Dương, vì vậy những nước có tâm lý hoài nghi đối với Trung Quốc này đã “mời Mỹ quay trở lại châu Á”. Giáo sư Khoa Chính trị thuộc Học viện Boston Robert S. Ross cho rằng ở mức độ nào đó Mỹ muốn chứng minh với các nước đồng minh châu Á của mình rằng Mỹ “có thể duy trì thế cân bằng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, nhưng chính sách này đã làm tăng lên không cần thiết cảm giác mất an ninh của Trung Quốc, và chỉ khuyến khích tính xâm lược của Trung Quốc, phá vỡ ổn định khu vực, giảm bớt khả năng hợp tác Trung-Mỹ. Từ sự phân tích của các học giả, chính trị gia phương Tây có thể thấy mục tiêu trực tiếp và ngắn hạn của chiến lược “tái cân bằng” nhằm vào Trung Quốc là: kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc liên tục tăng lên từ cuộc khủng hoảng tài chính đến nay, đề phòng trật tự khu vực và quốc tế mà Mỹ chủ đạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Thiết kế lâu dài của chiến lược “tái cân bằng” cũng có ý đồ phòng ngừa Trung Quốc. Khi tuyên bố đưa quân đến Australia, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói “cách nhìn nhận cho rằng chúng tôi sợ Trung Quốc là sai lầm, cách nhìn nhận cho rằng chúng tôi tìm cách bài xích Trung Quốc cũng là sai lầm”. Khi đọc diễn văn trước Australia, Tổng thống Obama đã nêu rõ Mỹ sẽ nói một cách thẳng thắn với Trung Quốc về tầm quan trọng của việc tôn trọng các quy tắc quốc tế và tầm quan trọng của việc tôn trọng nhân quyền. Có thể thấy, cách nói chiến lược “tái cân bằng” có ý đồ nhằm vào Trung Quốc không phải là không có cơ sở, nhưng từ đó mà nhận định mục tiêu của Mỹ là kiềm chế Trung Quốc cũng không phù hợp hiện thực. Mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thông qua việc xây dựng và hoàn thiện trật tự chính trị, kinh tế và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chế định các quy tắc quốc tế, xây dựng một môi trường chiến lược tổng thể tác động và quy phạm phương hướng phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Cuối cùng, Trung Quốc chỉ có hai lựa chọn chiến lược: hoặc là thông qua sự điều chỉnh và thay đổi của bản thân, tranh thủ hội nhập hệ thống mới; hoặc là làm bạn với một số nước, tách khởi hệ thống mới này. Điều này cũng có nghĩa là từ khi cải cách mở cửa đến nay, tiến trình hội nhập cộng đồng quốc tế liên tục của Trung Quốc vẫn ở “giai đoạn bước đầu”, liệu Trung Quốc có đồng ý hoặc liệu có thể chuyển tiếp lên giai đoạn cao hơn hay không, được quyết định bởi lựa chọn chiến lược của Trung Quốc.
Những toan tính chiến lược của Mỹ là đặt Trung Quốc vào lựa chọn mới, và điều này nhìn từ góc độ Trung Quốc cho thấy lại thể hiện tính không xác định trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Ngoài ra, sự can thiệp tùy tiện cộng thêm sự tuyên truyền lệch lạc của các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ về sự tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, chắc chắn sẽ làm tăng hơn nữa sự hoài nghi chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ.
5. Phong cách chính trị của êkíp ngoại giao mới ôn hòa giầu kinh nghiệm, có động lực nội tại tìm kiếm cái mới
Tuy Tổng thống Obama đồng ý chiến lược “tái cân bằng”, nhưng phong cách chính trị mạnh mẽ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và nhu cầu tích lũy vốn chính trị cá nhân của mình đã hối thúc Hillary Clinton thực hiện đường lối ngoại giao với tư thế mạnh mẽ khiến cho chiến lược “tái cân bằng” mang đậm sắc thái cá nhân Hillary Clinton và Bộ Ngoại giao do bà lãnh đạo, nhưng các khái niệm như “quay trở lại”, “xoay trục chiến lược”… mà Bộ Ngoại giao Mỹ thường sử dụng lại không trở thành từ ngữ thông dụng của Nhà Trắng và Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSC). Cùng với việc các nhân vật quan trọng chủ đạo chính sách châu Á-Thái Bình Dương như Hillary Clinton, Kurt Campbell… rời khỏi cương vị công tác, sự phai nhạt sắc thái của Hillary trong chiến lược “tái cân bằng” cũng là điều tất yếu.
Trái lại, tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel, do hai người đều từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, có sự hiểu biết hơn đối với việc tránh để Mỹ bị cuốn vào các cuộc chiến tranh, vì vậy lời nói và hành động sẽ nghiêng về ôn hòa, thận trọng. So với Hillary Clinton, hai người này đều không có khát vọng cá nhân lớn hơn nữa trên sân khấu chính trị tương lại, vì vậy khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng” không cần phải giống như Hillary vì khát vọng chính trị của cá nhân mà chỉ theo đuổi lợi ích trước mắt. Việc chế định và triển khai chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Hillary đã cơ bản hoàn thành, đồng thời cũng đã thu được thành quả rất lớn, người kế nhiệm rất khó có sáng tạo và vượt qua được. Ngoài ra, sự hứng thú của John Kerry và Chuck Hagel lại nằm ở khu vực Trung Đông và Afghanistan, vì vậy họ sẽ điều chỉnh tập trung tinh lực và thời gian nhiều hơn vào khu vực Trung Đông.
III. Ảnh hưởng đối với quan hệ Trung-Mỹ
Từ sự điều chỉnh nhỏ “giảm tốc để sửa sai” trong chiến lược “tái cân bằng” cho thấy Obama đã chuẩn bị chuyển việc thực hiện sự chuyển dịch sang phía Đông theo “kiểu nhẩy vọt” sang thực hiện mang tính lâu dài ổn định hơn, chiến lược “tái cân bằng” trong nhiệm kỳ thứ hai của Obama sẽ phát triển theo hướng ổn định, cân bằng hơn.
Việc “tái cân bằng” quân sự sẽ duy trì xu thế ổn định, hóa giải những hiệu ứng tiêu cực do phô trương thanh thế quá mức mà giai đoạn trước gây nên. Do phải đối phó với các vấn đề có tính cấp bách như Syria, hạt nhân Iran và khủng hoảng bán đảo Triều Tiên, nên hiện nay, Trung Đông, Đông Bắc Á vẫn là khu vực ưu tiên trong bố trí nguồn lực chiến lược của Mỹ, tiến độ “tái cân bằng” quân sự của Mỹ sẽ được làm chậm lại ở mức độ thích hợp, để tránh đưa tới sự căng thẳng mới về nguồn lực, đồng thời cung cấp đẩy đủ thời gian để Mỹ hóa giải những hiệu ứng tiêu cực do việc phô trương thanh thế quá mức trước kia gây nên.
Mức độ “tái cân bằng” kinh tế sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, nhưng trọng điểm sẽ chuyển từ xây dựng chủ trương và xác định cơ chế sang tăng cường đầu tư và phát triển dự án. Thúc đẩy TPP mở rộng thành viên là nhiệm vụ quan trọng trong việc thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương về kinh tế của Mỹ, sau khi Nhật Bản chính thức tham gia đàm phán, tốc độ tiến triển của TPP sẽ giảm đi, nhưng ý nghĩa kinh tế và chiến lược tăng lên. Trong giai đoạn tiếp theo, Mỹ sẽ ưu tiên thúc đẩy các dự án phát triển đầu tư cụ thể, viện có sắc thái quân sự trong chiến lược “tái cân bằng” đang phai nhạt, để mở rộng sự hiện diện kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Khuynh hướng dựa vào pháp luật và kênh đa phương để quản lý và kiểm soát tranh chấp lãnh thổ châu Á sẽ ngày càng nổi bật. Việc trực tiếp tham gia tranh chấp khu vực dễ đưa tới cam kết quá mức của Mỹ và mong đợi quá mức của các nước đồng minh, khiến cho rủi ro Mỹ bị lôi cuốn vào xung đột tăng lên, điều này không phù hợp với lợi ích của Mỹ. Nhiệm kỳ thứ nhất của Chính quyền Obama từng tìm cách thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn “Công ước Liên hợp quốc về Luật biển” (UNCLOS), để tăng cường địa vị pháp lý và đạo đức cho việc Mỹ can dự tranh chấp biển ở châu Á, trong tương lai nỗ lực này vẫn sẽ tiếp tục, và thuận theo tình thế thúc đẩy cơ chế tư pháp quốc tế để can dự vào tranh chấp lãnh thổ châu Á. Mỹ tăng cường thúc đẩy chức năng hóa các cơ chế an ninh châu Á, biến các cơ chế đa phương như “Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (mở rộng)”, “Hội nghị cấp cao Đông Á”… thành diễn đàn bình thường có thể thảo luận tranh chấp lãnh thổ.
Những thay đổi và điều chỉnh nêu trên của chiến lược “tái cân bằng” là sự thay đổi nhịp nhàng, thay đổi có trọng điểm, thay đổi của biện pháp và thay đổi của tư thế, với mục đích là tiến hành sửa đổi và bổ sung đối với những sai lầm và mất cân bằng trong quá trình thực hiện chiến lược “tái cân bằng”. Những thay đổi này đều là những điều chính mang tính cục bộ, sẽ không thay đổi phương hướng tổng thể và bố cục cơ bản của việc Mỹ thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Nhưng, những điều chỉnh và thay đổi nêu trên cũng có mặt tích cực:
Trước tiên, về bản chất, ý định của việc Mỹ quản lý và kiểm soát tranh chấp lãnh thổ ở châu Á là duy trì hiện trạng trật tự khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tuy không giúp gì cho việc giải quyết tận gốc vấn đề, nhưng biện pháp giảm tốc để sửa sai, thận trọng trong lời nói và hành động của Mỹ có thể phát ra tín hiệu mạnh mẽ tới các nước châu Á rằng Mỹ hy vọng duy trì ổn định khu vực, không hy vọng bị cuốn vào xung đột khu vực mới, xóa bỏ suy nghĩ của một số nước tìm cách lợi dụng chiến lược “tái cân bằng” để trói buộc Mỹ, để thực hiện lợi ích của nước mình, thúc đẩy các nước tìm cách lợi dụng tranh chấp để làm to chuyện trở nên có lý tình hơn, tình hình khu vực châu Á-Thái Bình Dương có hy vọng ấm lên.
Thứ hai, xu thế của việc Trung Quốc và Mỹ tìm kiếm hợp tác an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có hy vọng phát triển hơn. Việc xác định vai trò của Trung Quốc trong khuôn khổ chiến lược “tái cân bằng” có xu hướng tích cực, điều này có nghĩa là Mỹ đã nhận thức được một cách đầy đủ rằng chiến lược “tái cân bằng” có thể thực hiện một cách thuận lợi hay không, mấu chối là ở việc liệu có thể xử lý ổn thỏa quan hệ Trung-Mỹ hay không, đây là mệnh đề trọng tâm liên quan đến xu hướng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai. Khi đọc diễn văn tại Đại học Công nghiệp Tokyo Nhật Bản, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đưa ra ý tưởng “Giấc mơ Thái Bình Dương”, phát đi thông điệp muốn cùng Trung Quốc xây dựng tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hiện nay, Mỹ đã chính thức mời Trung Quốc tham gia tập trận ở Thái Bình Dương vào năm 2014, đây được coi là bước tiến thực chất mang tính xây dựng đối với việc bồi dưỡng niềm tin về an ninh giữa hai nước. Trong tương lai, chỉ cần hai bên có thể tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau, hai nước và quân đội hai nước có hy vọng tiếp tục mở rộng hợp tác, cùng tìm kiếm con đường chung sống hợp tác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Cuối cùng, việc Trung Quốc và Mỹ xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới đang đứng trước cơ hội mới. Chiến lược “tái cân bằng” giảm tốc để sửa đổi có lợi cho việc làm giảm sự hoài nghi chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, khi diễn thuyết tại Hiệp hội châu Á, Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon đã đưa ra những phản ửng rõ ràng và tích cực đối với sáng kiến xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới do Trung Quốc đề xuất, trong thời gian đến thăm Trung Quốc, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng bầy tỏ, Mỹ sẽ “xác định quan hệ Trung-Mỹ bằng tầm nhìn rộng rãi và quan điểm lâu dài hơn”, đồng thời muốn cùng phía Trung Quốc “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới truyền sức sống mạnh mẽ cho cả Trung Quốc và Mỹ”. Cùng với sự hội tụ về nhận thức chung chiến lược này, Trung Quốc và Mỹ cũng đã thể hiện rõ thái độ tích cực hơn so với trước kia đối với việc quản lý và kiểm soát bất đồng, việc nhóm biến đổi khí hậu cấp cao và nhóm công tác an ninh mạng của Trung Quốc và Mỹ lần lượt được thành lập đã phản ánh xu thế tích cực này. Đương nhiên, quản lý kiểm soát và hóa giải sự nghi ngờ chiến lược không chỉ cần có bối cảnh chung, mà cần có hành động thực tế lâu dài, Trung Quốc và Mỹ xây dựng tin cậy chiến lược vẫn là nhiệm vụ nặng nề, nhưng cơ hội bước đầu để xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới giữa Trung Quốc và Mỹ đã được thể hiện rõ.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Chủ Nhật, ngày 17/11/2013

VỀ CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ BẤT ĐỐI XỨNG CỦA TRUNG QUỐC

TTXVN (Moskva 21/11)
Trang mạng quân sự của Nga mới đây đăng bài viết bình luận, hơn 10 năm trước, Hiệp hội các nhà khoa học Mỹ đã đánh giá rất cao chương trình tên lửa của Trung Quốc trên cơ sở nhìn chung ngành công nghiệp quân sự nước này có vấn đề. Năm 2010, quân đội Trung Quốc thông báo đã bắt đầu thử nghiệm chương trình tên lửa đạn đạo đối hạm Đông Phong DF-21A nhiều tham vọng nhất của nước này.
Năm 2013 xuất hiện một số thông báo rằng tên lửa này được triển khai với số lượng không lớn ở miền Nam Trung Quốc. DF- 21A được chế tạo như loại tên lửa “diệt tàu sân bay”, nhằm chế ngự các nhóm tàu sân bay Mỹ trong trường hợp xẩy ra xung đột tại Đài Loan hay vùng lãnh thổ tranh chấp trên biển Hoa Nam (Biển Đông).
Quyết định của Trung Quốc sử đụng tên lửa đạn đạo đối hạm là bất thường nếu biết rằng sử dụng tên lửa đạn đạo nhằm vào tàu đang di chuyển phức tạp hơn nhiều và đòi hỏi phải dẫn đường tinh vi hơn so với tên lửa có cánh. Quyết định của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), đặt cược vào loại vũ khí này (ASBM) cho thấy niềm tin ngày càng lớn và sự phát triển của ngành công nghiệp quân sự Trung Quốc.
Các nhà phân tích đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tác động của hệ thống mới đối với quân đội Mỹ. Không có gì ngạc nhiên khi một số chuyên gia cho rằng đây lá yếu tố quyết định làm thay đổi cán cân quân sự và là hiểm họa với lực lượng Mỹ trong khu vực. Các chuyên gia khác thì cho rằng có một số phương án, theo đó có thể không cần sử dụng ASBM, như tạo ra các mục tiêu giả hay nhằm vào các hệ thống hỗ trợ và thông tin, Dù cả 2 trường phái đều đưa ra những lập luận có lý, song không nên xem xét ASBM một cách biệt lập mà như một phần trong tiến trình lớn hơn hiện đại hóa quân đội và thay đổi học thuyết quân sự của PLA.
Các nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc trong nhiều thế kỷ vẫn ưa thích cách tiếp cận phương thức tiến hành chiến tranh bất đối xứng. Trung Quốc không ảo tưởng trước sự thiếu chuẩn bị của quân đội trong cuộc chiến chống lại Mỹ và hiểu rằng hiện họ còn thua kém Mỹ về quân sự ít nhất 2 thập kỷ. Chính vì thế PL A đang phát triển một loạt chiến lược bất đối xứng để răn đe cho tới khi sức mạnh quân sự của họ đủ khả năng đối đầu với Mỹ.
Xét đến sự phụ thuộc của Mỹ vào liên lạc vệ tinh và vũ trụ để tiến hành thậm chí những hoạt động chiến tranh cơ bản nhất PLA đã đầu tư đáng kể để phát triển vũ khí chống vệ tinh. Tháng 1/2007, Trung Quốc phóng tên lửa chống vệ tinh đầu tiên của nước này, phá hủy một vệ tinh cũ của mình trong vũ trụ. Tháng 5/2013, Trung Quốc phóng một tên lửa không tải vào vũ trụ. Tên lửa này bay được 10 000km và là vụ phóng tên lửa xa nhất kể từ giữa những năm 1970. Việc tên lửa không mang theo vệ tinh có thể hiểu là tên lửa này được thiết kế cho mục đích chống vệ tinh. Cùng với tên lửa Trung Quốc còn thử nghiệm vũ khí laser xanh lá cây và xanh da trời, đều trùng với những nghi ngờ của quân đội Mỹ về vụ bắn chùm tia laser vào các vệ tinh của nước này. Năng lượng laser có thể làm gián đoạn liên lạc của vệ tinh, và tùy vào sức mạnh, có thể phá hủy vệ tinh.
Chương trình tên lửa của Trung Quốc cũng phát triển ổn định và phần nào tăng tính chính xác cũng như nhanh chóng hoàn thiện tầm bắn. Tiến bộ của dự án tên lửa cũng đi kèm với tiến triển trong dự án vũ trụ, được thể hiện rõ nét qua số vệ tinh phóng đi ngày càng tăng cũng như độ phức tạp của chương trình. Chương trình Mặt Trăng là sự thể hiện rõ nét ưu tiên vũ trụ của Trung Quốc.
Chiến lược quân sự bất đối xứng của PLA không chỉ giới hạn trong lĩnh vục vũ trụ, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác – trên bộ, trên biển, trên không và không gian mạng. Ví dụ trên biển, hải quân Trung Quốc không tập trung vào cách thức chống tàu sân bay Mỹ bằng tàu sân bay, hay dùng tàu chiến chống tàu chiến như tư duy của một số người. Trung Quốc triển khai số lượng ngày càng lớn các tàu ngầm tấn công trang bị vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân, đồng thời số lượng thủy thủ trên tàu ngầm – chiếm 45% toàn hạm đội. Đây là tỷ lệ cao nhất trong tất cả các hạm đội lớn trên thế giới.
Ngoài tàu ngầm, hải quân Trung Quốc còn đặt hàng nghìn tên lửa, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo trên đất liền. Họ cũng phát triển hàng chục tàu cao tốc bí mật trang bị tên lửa, như tàu hai thân lớp Hầu Bắc. Ở khu vực nước nông và duyên hải, các tàu này có thể tác chiến rất hiệu quả chống lại tàu cỡ lớn hơn, đặc biệt khi áp dụng chiến thuật “bầy đàn”.
Một lĩnh vực khác tạo ưu thế cho PLA là chiến tranh không gian mạng. Từ năm 2000, quân đội Trung Quốc đã thảo luận mô hình chiến tranh tổng lực hay chiến tranh không hạn chế trong đó PLA sẽ sử dụng các chiến thuật bất đối xứng trên mọi chiến trường. Công trình nổi tiếng nhất của Trung Quốc liên quan tới chiến tranh bất đối xứng do 2 đại tá của PLA viết năm 1999, với nhan đề “chiến tranh không hạn chế”, hay chiến tranh không biên giới.
Các vụ tấn công mạng gần đây cũng như các vụ thâm nhập nhậy cảm đối với Mỹ và các nước phát triển khác có mục đích nhằm thể hiện sức mạnh ngày càng tăng của vũ khí mạng Trung Quốc.
Trong những năm gần đây, các cơ sở giáo dục Trung Quốc, như Viện Khoa học quân sự, Học viện Quốc phòng và Học viện Hải quân đã dành thời gian đáng kể để nghiên cứu các chiến dịch quân sự của phương Tây. Cuộc xung đột Arập-Israel, trong đó có cuộc chiến thứ 2 tại Liban, đem lại cho Trung Quốc vô số ví dụ, theo đó việc bố trí tên lửa trên biển có thể gây thiệt hại lớn cho một hạm đội tiên tiến.
Mặc dù sự trung thành đối với chiến tranh bất đối xứng của Trung Quốc không phải là điều mới, song mô hình này đã nhanh chóng phát triển từ lý thuyết sang thực hành, và trở thành cách tiếp cận chính. Không nên cho rằng PLA sẽ chỉ trông cậy vào chiến lược bất đối xứng. Trên thực tế khi Trung Quốc thu hẹp khoảng cách về công nghệ, rất nhiều chính sách của nước này sẽ được phổ biến. Tuy nhiên tính tới sự ưa chuộng cả nghìn năm, yếu tố bất đối xứng nhiều khả năng vẫn sẽ là chiến lược chủ đạo. Ngược lại Mỹ ít quan tâm tới cuộc chiến bất đối xứng và các hình thức chiến tranh phi chuẩn mực khác. Cái gọi là hành động quân sự theo phong cách Mỹ chú trọng tới hỏa lực tấn công và xem nhẹ các yếu tố phòng thủ.
Vấn đề không phải nằm ở chỗ liệu Mỹ có thể chế ngự được một hệ thống cá biệt mà là liệu họ có thể hiểu được bản chất của các chiến lược bất đối xứng trong toàn bộ các khu vực chiến trường hay không. Hạm trưởng Scott Dzhaspar, người có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hải quân và là chuyên gia chiến tranh chống tàu ngầm cho rằng “tên lửa đạn đạo và hành trình kết hợp với tàu ngâm và tàu cao tốc mang tên lửa có thể kết liễu tàu sân bay. Một lượng lớn tên lửa. Với các biện pháp đối phó hiện đại chống nhiễu sóng vô tuyến có thể vô hiệu hóa các hệ thống tiên tiến nhất của chúng tôi như Aegis”
Trên thực tế, trong cuộc chiến năm 2006 chống Israel, Hezbollah đã phóng một loạt tên lửa do Trung Quốc chế tạo được Iran cung cấp vào tàu hộ tống lớp Eliat của Israel, khiến cho 4 thủy thủ thiệt mạng. Tàu hộ tống này được coi là tàu tiên tiến nhất trong các tàu hộ tống trên thế giới.
Mặc dù Mỹ sẽ duy trì ưu thế quân sự của mình trong tương lai gần nhưng Trung Quốc vẫn có khả năng làm suy yếu ưu thế đó. Điều này có thể có tác động tích cực cho cả hai bên, vì hai siêu cường sẽ kiềm chế lẫn nhau Trung Quốc và Mỹ ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau và chia sẻ nhiều lợi ích, Các mối quan hệ có lợi đó có thể làm giảm nguy cơ xung đột. Tuy nhiên cần nhớ rằng trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới thế kỷ trước Đức đều là đối tác thương mại chính của Anh.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Thứ Sáu, ngày 22/11/2013
 

NHỮNG ẨN HỌA LỚN CỦA QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC

TTXVN (Hong Kong 19/11)
Tạp chí “Tranh Minh” của Hồng Công cho biết trước thềm kỉ niệm ngày thành lập quân đội Trung Quốc (1/8), Trung ương Đảng, Chính phủ và Quân ủy Trung ương lần lượt đưa ra 4 thông tri liên quan tới lĩnh vực quân sự, xây dựng đảng trong hệ thống quốc phòng và xây dựng quân đội.
Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Tập Cận Bình và Thủ tướng Chính phủ Lý Khắc Cường, ủy viên trưởng Nhân đại Toàn quốc (Chủ tịch Quốc hội) Trương Đức Giang, Trưởng Ban Kiểm tra Kỉ luật Trung ương Vương Kỳ Sơn và Phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều lần lượt 6 lần dự hội nghị công tác chính trị của Quân ủy Trung ương và hội nghị đảng trong hệ thống quốc phòng. Cụ thể:
Ngày 5/7, Trung ương Đảng, Chính phủ và Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã đặt ra thông tri “Liên quan tới quy định lãnh đạo Quân ủy Trung ương, 4 cơ quan cấp tổng cục (Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Trang bị và Bộ Tổng Tham mưu), các quân binh chủng, các đại quân khu, bộ quốc phòng và cảnh sát vũ trang phải liêm khiết, tự khép mình vào kỉ luật, không được thực hiện đặc quyền, không được đặc thù hóa, không được làm những điều không đúng” xuống đảng ủy cấp 1 cấp quân khu. Việc Trung ương Đảng, Chính quyền và Quân đội truyền đạt thông tri nhằm vào cán bộ cao cấp hàng đầu của quân đội là chuyện rất hiếm thấy ở Trung Quốc trong gần 10 năm qua.
Tiếp đó vào tối ngày 7/7, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã ra văn kiện “Liên quan tới một số yêu cầu toàn quân sát cánh bên Đảng thực hiện mục tiêu xây dựng quân đội lớn mạnh trong tình hình mới” xuống 4 cơ quan cấp tổng cục, các quân binh chủng, các đại quân khu, các quân khu tỉnh và đảng ủy cấp 1 cấp sư đoàn. Bốn ngày sau, Quân ủy Trung ương và Chính phủ Trung Quốc đã ra văn kiện “Liên quan tới một số ý kiến về việc lãnh đạo các cấp trong toàn quân phải tăng cường, nâng cao bồi dưỡng bản thân, thực thi chức trách sứ mệnh” xuống đảng ủy cấp 1 trong hệ thống quân sự quốc phòng, ngành sản xuất khoa học công nghệ quân sự và học viện, nhà trường quân sự, quốc phòng. Đến ngày 15/7, Quân ủy Trung ương và Chính phủ Trung Quốc lại ra văn kiện “Liên quan tới việc hệ thống, đơn vị, ban ngành quân sự, quốc phòng phải thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và kiên định bảo vệ quyền uy của Trung ương Đảng, quyền uy của Quân ủy Trung ương” xuống đảng ủy cấp 1 cấp quân khu tới đảng ủy cấp 1 cấp trung đoàn. Văn kiện yêu cầu phải thực hiện “một tuyệt đối” và “hai quyền uy” (được nêu ra trong văn kiện), triển khai sinh hoạt dân chủ.
Cũng trong ngày 15/7, Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập hội nghị mở rộng. Đây là hội nghị mở rộng lần thứ 9 của Quân ủy Trung ương khóa này với sự tham gia của lãnh đạo 4 cơ quan cấp tổng cục, lãnh đạo các quân binh chủng, các đại quân khu, lãnh đạo 35 đơn vị nghiên cứu khoa học kĩ thuật quân sự và 9 học viện nhà trường quân sự, quốc phòng trực thuộc Quân ủy Trung ương. Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường và các nhà lãnh đạo khác đều tham dự hội nghị. Tại hội nghị, Tập Cận Bình đã có bài phát biểu với tiêu đề “Quân ủy phải liêm khiết, tự khép mình vào kỉ luật, phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội ta”.
Tập Cận Bình cho biết: “Qua điều tra nghiên cứu, khảo sát tương đối toàn diện, tương đối sâu, tương đối thiết thực là tổng kết, phân tích, thảo luận tình hình, tư liệu mà các nơi phản ánh và thu thập được, Quân ủy Trung ương khóa này không có bất cứ lý do gì, không có bất cứ quyền gì và không còn thời gian để tiếp tục coi nhẹ các vấn đề xuất hiện, nẩy sinh trong hệ thống quân sự, quốc phòng, tự giác hoặc không tự giác tiếp tục che đậy, tiếp tục thả lỏng, thỏa hiệp hay để tích tụ các vấn đề bị coi nhẹ, tồn đọng trong thời gian dài ở hệ thống quân sự, quốc phòng. Nói thẳng ra rằng nếu chúng ta tiếp tục che đậy những vấn đề này, tiếp tục thả lỏng để chúng xấu đi, tiếp tục để chúng tích tụ là chúng ta phạm tội và đi ngược lại sự nghiệp của đất nước, sự kỳ vọng của nhân dân và sự ủy thác của Đảng”.
Tập Cận Bình tiếp tục nhấn mạnh: “Quân đội, đặc biệt là hiện trạng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao một lần nữa chứng minh không phải cứ sống trong chân không, cũng không thể sống trong chân không, là một hạt bụi không dính. Chúng ta phải dũng cảm, tự tin đối mặt với hiện thực khắc nghiệt, tức là tình trạng lực lượng quân sự, quốc phòng chia rẽ, mềm yếu, uể oải và sa đọa biến chất. Nếu quân đội tiếp tục đánh mất thời cơ, không nắm chắc lấy thời cơ, tiếp tục không nắm sát, nắm chắc và nắm tốt bản thân lãnh đạo các đơn vị như ở Quân ủy Trung ương, 4 cơ quan cấp tổng cục, các quân binh chủng, các đại quân khu… thì sẽ muộn. Nếu quân đội, biến chất, thì không thể trụ vững trước sóng gió, từ cổ tới kim, cả trong nước và ngoài nước đều đã có tiền lệ như vậy”.
Tạp chí Tranh Minh cho biết thêm tại hội nghị mở rộng lần thứ 9 của Quân ủy Trung ương, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Thượng tướng Phạm Trường Long đã thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ và Quân ủy Trung ương tuyên bố tặng thưởng cho tập thể 28 cơ quan thuộc lực lượng pháo binh 2 (tên lửa chiến lược), không quân, hàng không vũ trụ, trang bị…Ông Phạm Trường Long cũng công bố hiện trạng quân đội và các ẩn họa, nguy cơ chủ yếu và nói rằng một số vấn đề trong đó đã tồn đọng nhiều năm, hiện nay đang xấu đi và lan rộng. Dưới đây là các nguy cơ, ẩn họa lớn của quân đội Trung Quốc mà ông Phạm Trường Long nêu ra:
Thứ nhất, địa vị lãnh đạo của tổ chức đảng trong hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng bị can thiệp, ảnh hưởng, thậm chí là thách thức và bài trừ từ nội bộ.
Thứ hai, lâu nay, các ban ngành, đơn vị thuộc hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng thực hiện đặc quyền, tiến hành đặc thù hóa, làm điều không đúng đắn, coi thường kỉ luật quân đội và pháp luật.
Thứ ba, trong thời kỳ tương đối hòa bình, sĩ quan cấp cao thuộc hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng thiếu niềm tin lý tưởng và thiếu cảm giác sứ mệnh.
Thứ tư, ở chừng mực khác nhau, các sĩ quan trung, cao cấp thuộc hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng đã bị tiêm nhiễm chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa hưởng lạc, theo đuổi danh lợi và lối sống xa hoa.
Thứ năm, tình hình kỉ luật quân đội bị buông lỏng trong hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng là nghiêm trọng và phổ biến.
Thứ sáu, sự quản lý của các ban ngành, đơn vị trong hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng lỏng lẻo, phân tán, để xẩy ra hàng loạt sự cố lớn.
Thứ bẩy, quan hệ giữa sĩ quan và binh lính, quan hệ giữa cấp trên và câp dưới thuộc các ban ngành, đơn vị trong hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng căng thẳng, để nẩy sinh tình hình “cướp cò” (không kiểm soát, gây đánh lộn, bắn giết lẫn nhau) nghiêm trọng.
Thứ tám, trình độ, tố chất và yêu cầu đại cương về huấn luyện, diễn tập và sát hạch của các ban ngành, đơn vị quân đội, quân sự tồn tại khoảng cách.
Thứ chín, do tranh chấp lợi ích, quan hệ giữa các ban ngành, đơn vị trong hệ thống quân đội, quân sự, quốc phòng và cơ quan, ban ngành đảng chính quyền địa phương trở nên căng thẳng, thậm chí nẩy sinh xung đột gây ảnh hưởng tiêu cực.
Khi đánh giá về tình trạng lười biếng, phân tán, mềm yếu, uể oải và sa đọa biến chất của quân đội Trung Quốc hiện nay, tạp chí Tranh Minh dẫn lời nhân sĩ chính giới chỉ rõ nguy cơ lớn nhất của quân đội Trung Quốc chính là do chính Trung Quốc tạo ra. Theo nhân sĩ này, đảng không quản lý đảng thì không thể quản lý được quân đội.
* * *
TTXVN (Tokyo 20/11)
Theo mạng tin “Sankei”, mới đây có thông tin cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã mua tên lửa đất đối không tầm xa Hồng Kỳ 9 loại FD2000 do Trung Quốc sản xuất để trang bị cho hệ thống phòng không của nước này. Trong số các ý kiến quan ngại của Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) người ta phát hiện Trung Quốc sử dụng các sản phẩm do Nhật Bản sản xuất dùng cho loại tên lửa này. Ngoài ra, ngay cả rađa phòng không đặt trên tàu khu trục tên lửa Thanh Đáo của Trung Quốc cũng sử dụng ăngten “made in Japan”. Một nhà bình luận quân sự của Trung Quốc khẳng định “đây là nguy cơ tiềm ẩn đối với quốc phòng”. Trong khi Bắc Kinh đang đối đầu với Nhật Bản xung quanh vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (thành phố Ishigaki, Okinawa) thì trên thực tế Trung Quốc lại phụ thuộc chặt chẽ vào nước này về mặt quân sự.
Linh kiện “made in Japan” dùng cho vũ khí
Đơn vị tiếp nhận đơn đặt hàng tên lửa là một công ty Trung Quốc có tên là Công ty xuất nhập khẩu cơ khí chính xác Trung Quốc (CPMIEC). Công ty này nằm trong danh sách đen của Chính phủ Mỹ, thuộc diện các công ty có dính líu đến chương trình hạt nhân của Iran và Triều Tiên. Trong cuộc mời thầu cạnh tranh trị giá 4 tỷ USD, công ty này đã đưa ra gói thầu rẻ nhất 3,44 tỷ USD. Với việc áp đảo các công ty của Mỹ và châu Âu, CPMIEC được dư luận trong nước đánh giá là một “thắng lợi” quan trọng.
Mạng “Hoàn cầu” thuộc “Nhân dân Nhật báo”,cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã đăng “bức ảnh chứng cứ” cho thấy quân đội nước này đã sử dụng mạch điện do một công ty Nhật Bản sản xuất. Ngoài ra, tờ báo này cũng đăng tải ảnh chụp rađa hàng hải của hãng điện tử Nhật Bản trên tàu ngầm hải quân Trung Quốc.
Mạng “Hoàn cầu ” cho rằng: “Việc các hãng sản xuất linh kiện điện tử Nhật Bản và Hàn Quốc độc chiếm thị trường trở thành nguy cơ tiềm ẩn đối với an ninh quốc phòng của Trung Quốc”. Nhà bình luận quân sự đặc biệt Lôi Trạch đã thừa nhận rằng: “Ngành công nghiệp quốc phòng của bất kỳ quốc gia nào cũng phải dựa vào chính năng lực công nghiệp và thông tin hoá của quốc gia đó. Trong 20 năm qua, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ to lớn trong lĩnh vực công nghiệp nặng và công nghiệp hoá song việc sản xuất các linh kiện điện tử vi mạch như bóng bán dẫn và thiết bị điện tử chính xác cũng như ứng dụng vật liệu mới hay trong lĩnh vực gia công thiết bị, Trung Quốc vẫn còn tụt lại một khoảng cách khá xa so với Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu và Mỹ”.
Cấm nhập thì đe doạ nền quốc phòng
Do vậy, ông Lôi khẳng định: ‘Trong một thời gian dài, Trung Quốc phụ thuộc mạnh mẽ vào việc nhập khẩu sợi cácbon, linh kiện điện tử và chất bán dân từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Nếu cấm nhập những thứ này thì hậu quả sẽ khôn lường. Việc giải quyết cho kỳ được nhược điểm này là vấn đề quan trọng giúp Trung Quốc có thể ngẩng cao đầu”. Ông này cũng cho biết: “Không chỉ xét trên góc độ công nghiệp và phát triển kinh tế quốc gia, Trung Quốc cần phải giải quyết vấn đề này trên phương diện an ninh quốc phòng và chiến lược quốc gia. Việc thoát khởi sự phụ thuộc vào công nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc là vấn đề có ý nghĩa hết sức cấp bách”.
Trên mạng Internet của Trung Quốc xuất hiện nhiều ý kiến bầy tỏ nghi ngờ về tính xác thực của thông tin trên khi cho rằng đây có thể là “chiêu bài tuyên truyền của Nhật Bản và Hàn Quốc”. Song, vào trung tuần tháng 10/2013, báo giới đã công bố bức ảnh cho thấy ăngten của công ty điện tử Nhật Bản được dùng cho rađa trên tàu khu trục tên lửa Thanh Đảo của hải quân Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn một nửa cư dân mạng “bán tín bán nghi” rằng “làm sao lại có thể dán logo của công ty lớn như thế trên một tàu khu trục của quân đội?” nhưng sau khi nhìn vào danh sách các linh kiện do Nhật Bản sản xuất trong số các thiết bị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) thì không còn nghi ngờ gì nữa.
Đối mục đích sử dụng từ dân sự sang quân sự
Năm 1967, Nhật Bản tuyên bố không xuất khẩu vũ khí sang các nước có tranh chấp hoặc những nước thuộc diện cấm nhập vũ khí theo Nghi quyết của Liên hợp quốc và các quốc gia Cộng sản. Năm 1976, Tokyo giữ quan điểm “tránh” xuất khẩu sang cả những nước ngoài danh sách cấm này. Năm 2011, Nội các Thủ tướng Yoshihiko Noda đã bãi bỏ lệnh cấm sản xuất, xuất khẩu và cùng phát triển vũ khí trên quy mô quốc tế vì mục đích hoà bình. Và rồi đến nay, Chính phủ Nhật Bản đã đề ra phương châm tạo nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng và tăng trưởng kinh tế mở đường cho việe xuất khẩu và sử dụng các thiết bị quốc phòng với mục đích dân sự mà không vi phạm “ba nguyên tắc xuất khấu vũ khí”.
Tuy nhiên, quay trở lại với vấn đề vừa nêu, Trung Quốc đã phát triển vũ khí bằng cách chuyển đổi mục đích sử dụng sang quân sự sau khi nhập thiết bị theo con đường dân sự. Bắc Kinh không thể nói rằng họ không hề sử dụng thiết bị “made in Japan” cho các tàu công vụ đang có hành động uy hiếp Nhật Bản ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku. Rõ ràng, là doanh nghiệp làm ăn, các công ty Nhật Bản có thể xuất khẩu phù hợp với các quy định để nâng cao lợi nhuận từ hoạt động này nhưng nếu chứng kiến hành vi trong những năm qua của Trung Quốc thì sẽ chẳng có lời giải thích nào đủ để khiến dư luận thực sự hài lòng.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Thứ Sáu, ngày 22/11/2013

Cản trở được loại bỏ khi VN vào Hội đồng Nhân quyền?

- Chủ nhiệm UB Đối ngoại QH Trần Văn Hằng trao đổi với báo giới bên hành lang QH chiều 13/11 về việc Việt Nam vừa trúng cử thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ.
Ông Hằng cho biết:
Việc này thể hiện được thành tựu rất to lớn đối với việc chúng ta bảo vệ và đảm bảo quyền con người. Một vấn đề hết sức cụ thể, trong Hiếp pháp sửa đổi 1992 sắp thông qua, chương quyền con người được đặt ở vị trí hết sức trang trọng. Đó cũng là xu hướng của thế giới, bao giờ cũng bảo đảm quyền con người lên trên hết.

Việt Nam, nhân quyền, trúng cử
Chủ nhiệm UB Đối ngoại QH Trần Văn Hằng.Ảnh: Lê Anh Dũng
Khi Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ đạp tan các thế lực phản động đang hoạt động ráo riết nhằm tẩy chay và thậm chí dựng lên nhiều chuyện vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đó chỉ là những tiếng nói đơn độc, không thể hiện được sự thật trong vấn đề bảo đảm quyền con người mà Nhà nước ta đã bảo đảm trong thời gian qua.
Khi chúng ta ứng cử có rất nhiều lực lượng tung lên mạng, đưa lên các phỏng vấn, tập trung các đối tượng phản động kích động để làm giảm uy tín của chúng ta. Thế nhưng các đoàn quốc tế đến Việt Nam, đặc biệt là các cuộc đối thoại về nhân quyền mà Việt Nam thực hiện với Mỹ, với các nước Bắc Âu, với EU thì họ nói rằng, Việt Nam có tiến bộ về mọi mặt trong vấn đề nhân quyền. Do đó, trong cuộc bỏ phiếu, chúng ta được đánh giá rất cao.
Khi được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ, tiếng nói của Việt Nam so với trước đây như thế nào?
Việt Nam sẽ có tiếng nói rất quan trọng trong việc cho thế giới rõ hơn về quyền con người ở mỗi quốc gia được thể hiện như thế nào và đặc biệt là để thế giới hiểu rõ hơn quyền con người ở Việt Nam, từ đó họ có nhận thức, cách nhìn đúng về quyền con người ở Việt Nam.
Hiện nay, sự hiểu biết về quyền con người còn chung chung của các thế lực khác nhau. Khi chúng ta vào Hội đồng Nhân quyền LHQ, chúng ta có quyền phát biểu và chứng minh bằng hành động, bằng điều kiện thực tế của mình và để cho họ thấy rõ quyền con người ở Việt Nam được đảm bảo.
Vào được Hội đồng Nhân quyền LHQ là một điều đáng khích lệ. Việt Nam cần làm những gì để hoàn thiện hơn và làm tốt hơn về việc đảm bảo quyền con người?
Tôi cho rằng, chúng ta sắp thông qua Hiến pháp, chúng ta cần phải ban hành một loạt các luật để cụ thể hóa quyền con người được qui định trong Hiến pháp đó. Một trong những quyền con người được ghi trong Hiến pháp phải bảo đảm là quyền sống, quyền được sản xuất kinh doanh, học hành…
Từ đó, các bộ ban ngành, các cấp phải phấn đấu mạnh mẽ để cụ thể hóa các chủ trương được thể hiện trong Hiến pháp nhằm bảo đảm quyền con người ngày một tốt đẹp hơn.
Một số nước luôn đặt nhân quyền của Việt Nam như một yêu cầu đầy khắt khe đối với quan hệ của Việt Nam. Bây giờ, vấn đề này nên nhìn nhận thế nào?
Trước khi Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền, cũng do tác động của các thế lực phần tử và một số lực lượng đã có nhận thức không đúng về Việt Nam. Nhưng qua thực tế chúng ta rất tích cực và sẵn sàng đối thoại không e ngại bất cứ điều gì cả. Từ đó, các nước trên thế giới mới nhận thức được rằng, đúng là giữa những thông tin sai lệnh của một số đối tượng hoàn toàn khác xa với mong muốn và quyết tâm chính trị của nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người.
Khi Việt Nam vào được rồi, chúng ta có thuận lợi về tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại… vì thông thường họ vin vào vấn đề nhân quyền để gây khó khăn, cản trở cho quan hệ hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực này. Họ cho rằng, đầu tư vào đấy thì vào một số phần tử nào đó chứ không phải toàn bộ người dân được hưởng.
Tôi tin rằng, những hạn chế, cản trở này sẽ được loại bỏ khi Việt Nam đã là thành viên. Đây là thời cơ để chúng ta hợp tác quốc tế về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật…