Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, là tài sản tinh thần quý báu của nhân dân ta, giá trị hợp thành nền văn hóa Việt Nam. Mặc dù thể hiện cái riêng, nhưng phong cách tư duy của Người không xa lạ mà mang tính lan tỏa, tác động tích cực tới hành động của các thế hệ người dân Việt Nam yêu nước nói riêng, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung.
Được hình thành từ con người có đức dày, tâm trong, trí sáng, tầm cao trí tuệ, nhân cách, ý chí lớn lao, hoạt động phong phú, đa dạng trên không gian, thời gian rộng lớn, với nhiều lĩnh vực, vị trí công việc khác nhau, nhưng phong cách tư duy Hồ Chí Minh là biểu hiện đặc sắc của sự độc lập, tự chủ, sáng tạo.
Độc lập, tự chủ, có nghĩa là Hồ Chí Minh không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào một luồng ý kiến nào, không bắt chước, “theo đuôi” ai, kể cả “theo đuôi quần chúng”. Trên cơ sở tiếp thu nhiều luồng tư tưởng tiến bộ của Việt Nam và thế giới, trong từng thời kỳ, Người đúc kết, tổng hòa thành cái riêng mà không sao chép, giáo điều, máy móc. Đối với chủ nghĩa Mác – Lê-nin - lý luận chính trị nền tảng rất quan trọng hình thành nên tư tưởng của mình - thì Hồ Chí Minh coi là “mặt trời soi sáng”, “trí khôn”, “cái cẩm nang thần kỳ” có tính chất phương pháp luận chỉ dẫn hành động của con người, là “bàn chỉ nam” cho con tàu đi. Đồng thời, coi việc học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin là học tập cái tinh thần xử trí đối với việc, với người và với mình. Vì vậy, Người tiếp nhận điều bản chất nhất, mục tiêu cuối cùng của lý luận Mác – Lê-nin là đấu tranh giải phóng con người, là chủ nghĩa nhân đạo mác xít, và cho rằng: “hiểu chủ nghĩa Mác – Lê-nin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lê-nin được”1. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng toàn bộ cái tâm trong sáng, sự khát vọng giải phóng: dân tộc, xã hội - giai cấp và con người, thông qua hoạt động trong phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, chứ không theo kiểu kinh viện, tầm chương trích cú. Chúng ta thấy rất hiếm khi viết, Người trích dẫn nguyên văn những quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin cũng như của những nhà tư tưởng khác. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Người viết và sau đó đọc vào ngày 02-9-1945, khi dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, Người không trích nguyên văn, chỉ lấy ý và biến nghĩa một số chữ cho phù hợp với tư duy của mình và tình hình thực tại2.
Hồ Chí Minh là người tiếp thu những tư tưởng tiến bộ ở trong nước và thế giới, kết hợp nhân tố chủ quan rồi tạo thành tư tưởng của mình, nhưng tư tưởng của Người không phải là con số cộng của nhiều luồng tư tưởng, học thuyết, mà là sự kết tinh luồng ánh sáng trí tuệ của dân tộc và nhân loại. Được như thế là bởi Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ, biết kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, nguyên lý của các nhà lý luận, nhà tư tưởng của dân tộc Việt Nam và thế giới. Nhiều người nước ngoài cảm nhận, trong phong cách Hồ Chí Minh có dáng dấp của V.I. Lê-nin, Găng-đi, của Oa-sinh-tơn,… thậm chí còn thấy có một số nét của chính mình. Phong cách Hồ Chí Minh là riêng biệt, đặc sắc, điều mà không ít người khát khao muốn học tập. Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-sơ-tam, vào cuối năm 1923, sau khi gặp gỡ, trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc, đã viết một bài đăng báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ), có đoạn: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai,… Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”3. Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ từ sớm và được rèn giũa qua bao nhiêu năm tháng hoạt động cách mạng. Năm 1923, Người kể lại với một người bạn nước ngoài: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái,… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”4. Vì có tư duy độc lập, tự chủ, nên Người chọn con đường sang Pháp, các nước châu Âu, châu Mỹ và đi hầu khắp các châu lục khác để nghiên cứu, khảo sát, tìm mục tiêu, con đường cứu nước mới, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và xu thế của thời đại. Từ người tìm đường, Hồ Chí Minh trở thành người mở đường, người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển.
Hồ Chí Minh có phong cách tư duy sáng tạo. Sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo là tư duy của Người trong cuộc sống. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Người cho rằng: “Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận. Nhưng phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”5. Một số người cho rằng sự sáng tạo trong tư duy Hồ Chí Minh là sự “vượt gộp”, tức là gộp tất cả những gì là tốt đẹp, tinh túy đã có để vượt lên phía trước, nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. “Vượt gộp” không phải là việc dễ dàng trong tư duy, phải biết gộp những gì và làm thế nào để gộp đã khó, nhưng biết vượt thì lại càng khó hơn. Con đường phát triển tư tưởng, tri thức của cá nhân hay một dân tộc và toàn nhân loại luôn là sự “vượt gộp” như vậy. Điều này, nhiều nhà tư tưởng nêu lên từ lâu: thế hệ sau phải biết đứng lên vai những người khổng lồ đi trước thì xã hội mới phát triển được6.
Là một thành viên của tổ chức chính trị, Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm chấp hành những quyết định của tổ chức. Nhưng với Người, chấp hành không có nghĩa là máy móc, mà là vận dụng những quyết định, nghị quyết của tổ chức cho phù hợp với điều kiện cụ thể. Thực tiễn cho thấy, Quốc tế Cộng sản đã có những quyết định đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng thế giới và phong trào giải phóng dân tộc do đảng cộng sản lãnh đạo ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Nhưng, Quốc tế Cộng sản có lúc không tránh khỏi những hạn chế trong nhận định, đưa ra chủ trương chưa hẳn phù hợp đối với cách mạng ở các nước thuộc địa. Vì thế, Hồ Chí Minh đã căn cứ vào tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam để vận dụng nghị quyết, quyết định của Quốc tế Cộng sản cho sát hợp, mặc dù có lúc bị hiểu sai. Quá trình xây dựng xã hội mới, trên cơ sở nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã có quan điểm thực tiễn để vận dụng cho phù hợp với một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ, tiểu nông lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và trong điều kiện vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược. Tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh biểu hiện rõ ở chỗ, khi cho rằng, Việt Nam “không thể giống Liên Xô” và “có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Đó là con đường tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải tiến hành ngay cuộc cách mạng vô sản và đi ngay vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như ở nhiều nước khác.
Như vậy, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo được thể hiện rõ ở việc Hồ Chí Minh rất chú ý xuất phát từ thực tế Việt Nam. Yêu cầu phát triển của Việt Nam là: dân tộc độc lập, đất nước giàu mạnh, mọi người được tự do, dân chủ, hạnh phúc. Điều này được Hồ Chí Minh thể hiện ngay trong tiêu đề văn bản hành chính của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” và trong nhiều lần phát biểu khác. Đặc biệt, trong Di chúc, Người nêu: “điều mong muốn cuối cùng” là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”7. Hoàn cảnh thực tế Việt Nam trong từng giai đoạn, mỗi thời kỳ là một tiêu điểm làm cơ sở cho mọi suy nghĩ của Hồ Chí Minh. Những điều diễn ra trong thực tế luôn hiển hiện trước mắt mọi người, nhưng không phải ai cũng nhận thức được như nhau. Nhận thức chính xác tình hình thực tế phụ thuộc rất lớn vào tầm nhìn, bản lĩnh của con người. Với tầm cao trí tuệ, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ, chính xác tình hình thực tế Việt Nam, đưa ra quan điểm sát hợp. Trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh đã làm nên phong cách tư duy độc đáo, đúng đắn, sáng tạo Hồ Chí Minh. Người là điển hình trong phong trào cộng sản quốc tế đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến những thành công của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đóng góp phát triển và làm phong phú lý luận Mác – Lê-nin theo đúng yêu cầu của “học thuyết mở” luôn cần được nạp thêm năng lượng mới từ cuộc sống của mỗi dân tộc khi áp dụng. Cũng do thế, nên có lúc Hồ Chí Minh có một số quan điểm khác với quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa - phong kiến của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (năm 1928), nhưng lại hoàn toàn đúng với Việt Nam - một nước thuộc địa - phong kiến - khi mọi giai cấp, tầng lớp trong cộng đồng người Việt Nam yêu nước đều có một “mẫu số chung”, một “véc-tơ lực”: giải phóng dân tộc. Trên thực tế, Hồ Chí Minh luôn chú ý hướng Đảng ta đưa ra đường lối, chủ trương sát hợp với từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng và khi thấy nó chưa sát hợp với thực tế thì cùng Trung ương Đảng sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện. Thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ hai điều: 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh là đúng về mục tiêu và con đường cách mạng Việt Nam; 2. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình cụ thể Việt Nam của Đảng; tư duy giáo điều, tả khuynh, hữu khuynh, chủ quan, duy ý chí tất yếu dẫn đến thất bại.
Hồ Chí Minh là một điển hình của tư duy lấy điều kiện thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát cho mọi quan điểm, đường lối, chi phối hành động của Đảng. Không chỉ vậy, Người chủ động tiếp thu các luồng tư tưởng tiến bộ trên thế giới; phân tích chính xác tình hình thế giới để hành động phù hợp. Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh có ưu thế so với nhiều nhà yêu nước, cách mạng Việt Nam cùng thời là sống và hoạt động ở nước ngoài 30 năm (1911-1941). Thời gian này, Người nghiên cứu, học tập, hoạt động yêu nước và cách mạng, nên đã trực tiếp kiểm nghiệm nhiều quan điểm. Người đã trải qua nhiều thăng trầm, thử thách, sóng gió trong nhiều môi trường sống khác nhau. Sự tự nguyện dấn thân vào cuộc sống lao động, thậm chí làm những công việc rất nặng nhọc và do vậy, bằng cảm nhận trực tiếp mà Người đã thấu hiểu tình cảnh và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp lao động. Hồ Chí Minh hoạt động trong tổ chức cộng sản ở Pháp và ở Quốc tế Cộng sản, nơi mà Người tiếp thu dần dần lý luận cách mạng Mác – Lê-nin và rèn luyện tư duy biện chứng duy vật; hoạt động trong một môi trường rộng rãi, đi đến khoảng trên 30 lượt nước trên thế giới, đã hai lần bị đế quốc, thực dân giam cầm, tù đày, thậm chí chỉ vì luôn nhiệt thành với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, có lúc bị những người cùng chí hướng hiểu sai. Hồ Chí Minh có 19 năm làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam và 24 năm làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Là con người lăn lộn với thực tiễn và quảng giao quốc tế, từ thuở hàn vi cho đến cả khi làm Chủ tịch nước và Chủ tịch Đảng, Người không ngừng học tập, rèn luyện, tiếp nhận những tri thức mới trên cái nền bản thể của mình, không bị hòa tan, bắt chước, mà tiếp thu một cách chọn lọc, có phê phán, không phủ định giản đơn. Trên cơ sở đó, để thu nhận, tiếp biến tư tưởng của mình. Người cho rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”8. Hồ Chí Minh đem bốn vị rất khác nhau về lập trường, quan điểm và lại càng khác nhau về thời đại ghép vào với nhau, giả định “cho” các vị ấy “họp lại một chỗ” được là vì Người nhìn thấy ở họ một điểm chung là đều “mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Hồ Chí Minh cũng nằm trong điểm chung ấy và cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Sự đặc sắc tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí Minh là kết quả từ phẩm chất, năng lực với hai điểm chủ yếu: bản lĩnh cao cường và trí tuệ mẫn tiệp. Kết quả đó là do một quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cả cuộc đời, ở mọi lúc, mọi nơi của Người. Vì thế, Người luôn tự làm chủ cuộc sống và chú trọng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, nên vững vàng trong xử lý mối quan hệ đối với người chung quanh, công việc và làm chủ bản thân.
Thế giới hiện nay là thế giới của tri thức sáng tạo, trong đó phong cách tư duy Hồ Chí Minh là điểm nhấn đáng chú ý. Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh là học tập tinh thần sáng tạo để hành động cho phù hợp với mục tiêu cách mạng đã đề ra. Sáng tạo là trên cơ sở nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh rồi đưa vào thực tiễn phù hợp hoàn cảnh cụ thể. Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam thế kỷ XX - thế kỷ bi hùng của các cuộc đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Lớp lớp thế hệ người Việt Nam trong thế kỷ XXI, nhất là những cán bộ, đảng viên càng cần sự kiên định mục tiêu và sáng tạo theo phong cách Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu trong một thế giới toàn cầu hóa.
GS, TS. MẠCH QUANG THẮNG
______________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 668.
2 - Hồ Chí Minh dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ như sau: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Người dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 01). Bà Lady Borton, một nhà hoạt động xã hội Mỹ, sống nhiều năm ở Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, trong bài viết của mình nhan đề Hồ Chí Minh đã biết điều đó như thế nào? trình bày tại Hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 21-9-2000 với chủ đề “Việt Nam trong thế kỷ XX” cho biết: Bà đã trao đổi ý kiến với Sáclơ Phen - người mà năm 1945 là trung úy, thành viên của Cơ quan Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của CIA sau này, người đã giới thiệu cho Hồ Chí Minh lúc ấy có mặt tại Côn Minh (Trung Quốc) để đưa một phi công Mỹ được Việt Minh cứu trao cho tướng Chennault, Sở chỉ huy Không lực 14 tại Côn Minh (ngày 29-3-1945). Bà Lady Borton nói lại ý của Sáclơ Phen rằng: “Đây chính là điều mà các nhà sử học Mỹ sai lầm ở chỗ họ nghĩ rằng Hồ Chí Minh đã trực tiếp trích dẫn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Mỹ. Ông không hề trích dẫn. Trái lại, Hồ Chí Minh đã sửa đổi tài liệu đó để khẳng định cách nhìn của ông”. Cũng theo bà Lady Borton, Hồ Chí Minh sửa đổi ở chỗ: bản của Mỹ, chữ “con người” là “men”, còn bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh viết là “tất cả mọi người”. Điều đó thì không để chỉ “men”, tức là không bao gồm phụ nữ, tầng lớp mà ở Mỹ, những người da màu được quyền đi bầu cử vào năm 1870, còn phụ nữ thì muộn hơn – mãi sau năm 1920. Bà Lady Borton viết tiếp: “Hồ Chí Minh thông thạo tiếng Anh. Hẳn ông biết rõ sự khác nhau giữa “con người” (men) với “người” (people)”. (Theo Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Đại học quốc gia Hà Nội: Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb CTQG, H. 2002, Tập 4, tr. 258 - 259).
3 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 462 - 463.
4 - Sđd, Tập 1, tr. 461.
5 - Sđd, Tập 5, tr. 312.
6 - Những diễn giải về "vượt gộp" trên đây là viết theo ý trong cuốn sách của Giáo sư Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 1997, tr. 163.
7 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 624.
8 - Đoạn trích này là từ cuốn sách Hồ Chí Minh truyện, bản dịch Trung văn của Trương Niệm Thức, Bát nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, 6-1949. Tôi trích lại từ cuốn sách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1997, tr. 43.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

NỰC CƯỜI CHUYỆN TRUNG QUỐC THU HỒI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

À, kể ra cái ? lớn hàng xóm này dựa vào thế nước lớn mà mạnh mồm gớm. Từ xưa đến giờ, lịch sử chưa có lần nào công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc đâu!. Thế giới, có quốc gia nào thừa nhận việc đó đâu; chứng cứ pháp lý và lịch sử dành dành mà người Trung Quốc cứ nhắm mắt nói bừa. Vì sự mơ hồ và chỉ có Trung Quốc là cứ mạnh dạn vương vòi bạch tuột muốn nuốt chửng cả Biển Đông mà không thấy hổ thẹn cho một quốc gia được gọi là "phát triển bao dung" (Hồ Cẩm Đào) dựa vào hòa bình, tôn trọng các quốc gia khác. Thế mới hiểu TQ xưa nay là thế.
Thỉnh thoảng "lựa theo thời thế..." Trung Quốc lại có những phát ngôn gây sốc cộng đồng thế giới, với những ngôn từ nhằm đánh động, lừa dối cả cộng đồng quốc tế về Biển Đông nên cứ làm gì là làm. Không phải thế là đúng đâu thưa Bắc Kinh ạ. Mà vừa qua, Hải quân Trung Quốc ngang nhiên tổ chức cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”. Trước hành động vô lí, coi thường pháp luật quốc tế của Bắc Kinh, ông Lê Hải Bình – Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ lâu đời của Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ II, cộng đồng quốc tế đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo này”.
Nhằm thực hiện âm mưu bá chủ thế giới, mà trước mắt là trở thành đối trọng với Mỹ ở khu vực Châu Á, Trung Quốc đang ngày càng ngang ngược ở khu vực Biển Đông, bất chấp luật pháp quốc tế và sự phản đối của dư luận thế giới. Trung Quốc tuyên bố đã tuyên bố chủ quyền phi lý với yêu sách “đường lưỡi bò”, rồi xây dựng trái phép các công trình nhân tạo ở khu vực đảo Hoàng Sa, Trường Sa tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm và hủy hoại hệ sinh thái biển, thậm chí Trung Quốc còn không ngại tiến hành các hoạt động mang tính chất vũ trang như đâm chìm tàu thuyền và bắt có ngư dân các nước khác…
Đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền và có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền. Tuy nhiên, Bắc Kinh thường xuyên “mặt dày”, ngang nhiên tuyên bố chủ quyền vô lý. Đặc biệt là với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng. Trung Quốc tự biến mình từ một nước lớn thành kẻ “đục nước béo cò” trong mắt bè bạn quốc tế khi lợi dụng tình hình quân đội Việt Nam vừa khiến Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneve năm 1954 còn chưa kịp tiếp quản quần đảo này để chiếm đóng trái phép… Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là các điều luật liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.
Chứng cứ lịch sử để lại cũng đã khẳng định Trung Quốc chưa bao giờ là chủ nhân hợp pháp của hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nên không bao giờ có cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”. Nếu có đó chỉ là sự chiếm đóng trái phép và những tuyên bố vô căn cứ của chính quyền Bắc Kinh.
Đúng như ông Lê Hải Bình đã phát ngôn: “Hoạt động nói trên của Trung Quốc không thể làm thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đi ngược lại xu thế phát triển quan hệ hiện nay giữa hai nước, gây phức tạp tình hình. Việt Nam kiên quyết phản đối”.
Lê Hòa
 

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Đừng hỗn xược, đừng vô ơn!

Năm 1969, Người lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Cu Ba và nhiều nước Cộng sản đã tổ chức Quốc tang.
Năm 1973, khi chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Fidel Castro trực tiếp đến Việt Nam, tham gia vào phòng tuyến Quảng Trị. Trong chuyến thăm này, Cu Ba tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế xã hội trị giá khoảng 80 triệu USD bao gồm:
- Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, trên đường Sơn Tây, hiện nay vẫn sử dụng tốt.
- Nông trường bò sữa Mộc Châu với 1.200 con bò được thụ thai ởCu Ba và sinh đẻ ở Việt Nam (trẻ em Cu Ba được uống sữa hàng ngày còn trẻ em Việt Nam không có sữa uống vì các công trình y tế, trang trại bị Mỹ ném bom phá hủy).
- Nông trường gà ở Lương Mỹ (Hòa Bình), sau thành nơi cung cấp gà giống cho cả miền Bắc
- Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba ở Đồng Hới (Quảng Bình).
- Chính phủ Cu Ba ngoài viện trợ lương thực, y tế,còn quyết định chi hàng triệu USD để mua các trang thiết bị....và nhiều tài sản có giá trị khác.
Năm 1977, Cuba vận động tất cả các nước Mỹ Latinh bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.
Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam. Fidel Castro lại một lần nữa nhấn mạnh "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ông ra lệnh cho quân đội sẵn sàng đến trợ giúp Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, Liên Xô đưa quân đội cùng rất nhiều tên lửa đến sát biên giới Trung Quốc và tuyên bố sẽ san phẳng Bắc Kinh nếu như Trung Quốc không rút quân về nước. Trung Quốc vội vàng thu quân.
Những năm 80, Mỹ cấm vận, trừng phạt kinh tế, dùng nhiều thủ đoạn để cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới, Cuba vẫn luôn luôn viện trợ Việt Nam về mọi mặt.
Năm 1974 Cu Ba giúp ta bắc cầu treo Bến Tắt qua thượng nguồn sông Bến Hải vào nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn trên đường Hồ Chí Minh nhánh đông và rải nhựa đoạn này trước khi giải phóng miền Nam. Năm 1999 lũ lớn cuốn trôi cầu ta phải phục chếlại để giữ kỷ niệm của nước bạn... Đến nay nhiều bạn trẻ không biết nghĩa tình chung thủy VN- CB son sắt đến mức nào
Năm 1986 xảy ra thảm họa nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Hàng ngàn trẻ em Ukraine đãđược sang Cuba điều trị miễn phí. Tuy không được phía Cuba tiết lộ, các quan chức chính phủ Ukraine ước tính chi phí điều trị cho đến nay không dưới 300 triệu USD.
Mặc dù hiện nay Ukraine bài trừ cộng sản nhưng Tổng Thống Ukraine Petro Poroshenko, sau khi biết tin ông Fidel Castro mất, đã gửi lời tri ân đến ông và nhân dân Cuba về điều này.
Năm 1990, Việt Nam ở trong tình trạng khan hiếm vaccine. Giá vaccine thời ấy cực kỳ đắt đỏ. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong tăng cao. Cuba đã viện trợ rất nhiều vaccine cho Việt Nam, đồng thời đào tạo nhiều y bác sỹ cho Việt Nam. Và còn nhiều, nhiều, nhiều nữa...
Nhưng hơn thế nữa là tình hữu nghị, tình anh em thắm thiết, thủy chung son sắc, đoàn kết vượt qua những khó khăn của lịch sử, đánh thắng các nước thực dân, đế quốc sừng sỏ để mang lại cho hai đất nước chúng ta nền hòa bình, phát triển phồn vinh.
Vậy, tại sao nhiều người đã vô ơn không nhớ điều đó?
Cần nhớ câu nói của Rasul Gamzatov: "Nếu anh bắn quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn anh bằng đại bác !".
Lê Hòa
 
 
 
 

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

Chiến dịch tranh cử Mỹ là nền dân chủ “ở trạng thái hừng hực nhất và cũng… đáng xấu hổ nhất”

 Đó là nhận định của nhà báo Mark Mardell, nhà quan sát đầy kinh nghiệm của chương trình “Thế giới trong tuần” trên Đài BBC
Cảnh báo hỗn loạn
Lý do cho nhận định của nhà báo Mardell rất đơn giản: những tác động/ảnh hưởng Trump đã gieo rắc sẽ không biến mất cho dù ông ấy có thất bại. Donald Trump gây sửng sốt cho thế giới không phải vì bản thân quá phi thường, cái chính là ông ấy đại diện cho tinh thần của một bộ phận đông đảo dân chúng Mỹ.
Câu ngạn ngữ “thắng một lá phiếu cũng là thắng” thật ra chỉ đúng một phần. Trận chiến có thắng có thua nhưng chiến tranh sẽ tiếp tục trong nhiều năm. Tại Anh, câu nói “Brexit là Brexit” được dùng để khuyến khích phe thân Liên minh châu Âu (EU) chấp nhận thất bại, nhưng người Mỹ với cơn giận trong đầu sẽ không cam chịu im lặng.
Nếu ông Trump thua, ông ấy có thể tiếp tục phản đối, dùng đến chiêu bài pháp lý hoặc đưa ra những cảnh báo “rùng rợn”.
Trong lịch sử nước Mỹ từng có một số nhân vật có sức ảnh hưởng như ông Trump xuất hiện. George Wallace là một ví dụ. Ông này tranh cử trong tư cách ứng viên độc lập năm 1968 với quan điểm bảo vệ sự phân biệt chủng tộc da trắng - da đen và chính sách kinh tế ưu đãi tầng lớp công nhân da trắng.
Wallace từng có câu nói “bất hủ”: “Có một sức mạnh phản ứng mạnh mẽ ở quốc gia này chống lại chính quyền lớn. Nếu các chính trị gia đứng ra cản trở, rất nhiều người trong số họ sẽ bị tông xe trên đường bởi một anh công nhân nhà máy dệt hoặc nhà máy thép!”.
Wallace đã thua nhưng những người ủng hộ ông ấy vẫn còn đó. Các công nhân nhà máy tiếp tục nhìn điều kiện sống và địa vị xã hội của họ đi xuống. Dư âm của sự bất mãn này tiếp tục kéo dài.
Nói ngắn gọn, dù ông Trump có biến mất trong nhục nhã sau ngày 8-11, di sản ông ấy để lại đủ sức biến đổi cả nền chính trị Mỹ.
Khó cho bà Hillary
Sau ngày ông Barack Obama được bầu làm tổng thống, "Tea Party" (Đảng Trà) gây dựng một phong trào lôi kéo những người bất mãn về chính sách thuế, giải cứu ngân hàng, mô hình chính quyền lớn… Ông Trump ngày nay đặt những vấn đề này là trọng tâm của Đảng Cộng hòa, đổ lỗi cho tự do thương mại toàn cầu, dân nhập cư tràn lan là nguyên nhân gây bất an cho người da trắng.
Mà không chỉ giới công nhân, nhiều người Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu có thu nhập tương đối cũng phải oằn mình gánh món nợ học phí, hóa đơn y tế khổng lồ suốt đời. Thử tưởng tượng những người này sẽ cảm thấy ra sao khi nghe chính phủ dùng tiền thuế để giúp đỡ dân nhập cư bất hợp pháp giữa lúc chính họ phải vật lộn với cuộc sống? Mục tiêu của ông Trump chính là đối tượng cử tri này.
Thử đặt trường hợp bà Clinton thắng cử, lúc đó chưa chắc chỉ có mỗi áp lực từ những người ủng hộ Donald Trump. Những đồng minh cánh tả của bà Clinton cũng có thể là mối nguy. Cử tri ủng hộ ông Bernie Sander (đối thủ cũ của bà Clinton) chẳng hạn, họ có thể ghét Trump, nhưng họ tán đồng hành động tấn công nền móng chính trị cũ, người giàu có và quyền lực của ông này.
Một số khác không muốn Mỹ can thiệp quá sâu vào Trung Đông, căng thẳng quá với Nga… Vượt qua những thứ đó, bà Clinton vẫn còn phải chịu cái biển hiệu “bà ấy chiến thắng chỉ vì không phải là Trump” gắn bên ngoài Nhà Trắng.
Về phần Đảng Cộng hòa, khi ông Trump càng tiến lên, họ càng mắc kẹt trong thế tiến thoái lưỡng nan. Sớm hay muộn họ cũng phải đưa ra lựa chọn dứt khoát (kể cả phải quyết liệt chống toàn cầu hóa, tự do thương mại…). Nếu không làm vậy, dù hệ thống lưỡng đảng của Mỹ khá bền vững nhưng rủi ro một phong trào phản đối bùng nổ là có thật và ai biết nó sẽ dẫn đến điều gì.
Donald Trump thành tổng thống có lợi cho Trung Quốc
Một số người ủng hộ Trump đơn giản để thấy “hệ thống dân chủ của Mỹ trở nên ngớ ngẩn”, Yao Lin, thuộc phòng chính sách công của đại học City University of Hong Kong chia sẻ với Business Insider.
Theo Lin, những người này không thực sự yêu thích Trump mà chỉ muốn “thấy nước Mỹ sụp đổ khi Trump nắm quyền tại Nhà Trắng”. “Họ thường chia sẻ những bài báo ủng hộ Trump trong khi không thực sự ủng hộ ứng viên tổng thống này”, Lin nhận định.
Trong khi đó, một số khác lại thực sự về phe Trump. Họ ủng hộ các chính sách, lập trường và uy tín của Trump, so sánh ông với một số lãnh đạo như Vladimir Putin, Tập Cận Bình hay Mao Trạch Đông. Theo Lin, nhiều người thích thú với tư tưởng biệt lập của ông này. Họ tin rằng tư tưởng này sẽ giúp Trung Quốc có cơ hội trở thành số một thế giới hoặc phát triển quan hệ khăng khít hơn với Mỹ. Ý kiến khác cho rằng: Việc Trump chỉ trích NATO là “lỗi thời” sẽ mở đường cho sự phát triển quân sự của Trung Quốc. Sự phản đối của Trump đối với chính sách ủng hộ vô điều kiện của Mỹ cho Philippines, Nhật Bản và Hàn Quốc có lợi cho Trung Quốc. Việc Trump gợi ý Trung Quốc kiểm soát Triều Tiên sẽ tiếp thêm sức mạnh cho Trung Quốc trên bán đảo Triều Tiên. Ngay cả chính sách với người Hồi giáo của Trump cũng đang nhận được sự đồng tình tại Trung Quốc
Lê Hòa
Lược ghi từ http://cafef.vn

Nước Mỹ đi về đâu sau cuộc bầu cử?

Dù Trump hay Clinton làm tổng thống thì nước Mỹ sau cuộc bầu cử cũng trở thành một quốc gia bị chia rẽ sâu sắc. Đây sẽ là trở ngại rất lớn cho chính phủ kế nhiệm.

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 đang thể hiện sự thiếu văn minh và khác biệt quá lớn giữa các ứng viên: Donald Trump, một doanh nhân đi ngược lại các nguyên tắc truyền thống của xã hội, đại diện đảng Cộng hòa và Hillary Clinton, chính trị gia "kiểu mẫu" của đảng Dân chủ.
Nó cũng cho thấy những vết nứt sâu trong lòng xã hội Mỹ và khiến hình ảnh của cường quốc này bị hủy hoại trong mắt thế giới. Mặc dù vậy, mùa bầu cử bị nhiều người lên án là “xấu xí”, “vô nghĩa” này rồi cũng kết thúc. Câu hỏi đặt ra là điều gì sẽ xảy đến tiếp theo với nước Mỹ?
Cuộc đua tổng thống Mỹ năm 2016 giữa ứng viên đảng Dân chủ Hillary Clinton và đối thủ đảng Cộng hòa Donald Trump đang ở vào giai đoạn nước rút căng thẳng. Nhiều người đánh giá đây là một mùa bầu cử "xấu xí" và "vô nghĩa". Ảnh: CNN
Các số liệu thăm dò vào thời điểm hiện tại đều cho rằng cựu Ngoại trưởng Clinton sẽ đánh bại tỷ phú Trump, nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn số liệu khảo sát với thực tế. Cuộc trưng cầu dân ý Brexit về tư cách thành viên của Anh trong Liên minh châu Âu (EU) hồi tháng 6 là một thí dụ.
Hầu hết những nhà quan sát khi đó tin rằng chiến thắng tất yếu thuộc về phe "ở lại" song kết quả đã làm họ “sốc nặng”. Hay gần đây hơn, đầu tháng 10, người dân Colombia bất ngờ từ chối thỏa thuận hòa bình lịch sử với quân nổi dậy Farc, trái ngược hoàn toàn dự kiến ban đầu của chính phủ.
Tất cả những thực tế trên chỉ ra rằng chiến thắng với Clinton dù rất gần, không có gì bảo đảm điều đó là chắc chắn cho đến khi cuộc bỏ phiếu chính thức diễn ra ngày 8/11.
Chia rẽ sâu sắc
Chúng ta không biết đích xác Trump hay Clinton thắng cuộc nhưng có thể khẳng định một điều: Dù ai làm tổng thống hay đảng nào chiếm đa số trong quốc hội thì nước Mỹ sau cuộc bầu cử cũng sẽ trở thành một quốc gia bị chia rẽ. Chính phủ sẽ bị phân liệt giữa đảng Dân chủ và Cộng hòa. Không đảng nào được bên kia ủng hộ để hiện thực hóa những mục tiêu đã đặt ra.
Tuy nhiên, không nên lầm tưởng rằng thứ duy nhất chia rẽ chính trị Mỹ là sự bất đồng giữa đảng viên Cộng hòa và Dân chủ. Trong nội bộ mỗi đảng, sự chia rẽ cũng vô cùng phức tạp và sâu sắc.
Những bè phái lớn và cực đoan áp đặt ý chí mạnh mẽ lên phần còn lại. Đây mới chính là nhân tố đẩy hai đảng sang hai thái cực đối lập nhau: Đảng Dân chủ về cực tả còn đảng Cộng hòa về cực hữu. Điều này khiến cho những người chủ trương ôn hòa ở cả hai đảng khó lòng đạt được bất cứ thỏa hiệp nào.
Cuộc bầu cử tổng thống 2016 còn đẩy mâu thuẫn trong chính trị nội bộ Mỹ lên cao hơn nữa. Nếu Clinton đánh bại Trump, những đảng viên Cộng hòa sẽ mặc định rằng bà thắng nhờ vào sự kém cỏi của nhà tỷ phú. Họ sẽ nói bà chỉ có thể là tổng thống “một nhiệm kỳ” vì nước Mỹ cần sự thay đổi, không thể để người của đảng Dân chủ làm tổng thống 4 nhiệm kỳ liên tiếp.
Rất nhiều đảng viên Cộng hòa (đặc biệt là những người cho rằng chiến thắng của bà Clinton không chính đáng) sẽ tìm cách làm cho chính phủ dưới quyền cựu ngoại trưởng trở thành một chính phủ thất bại. Điều này cản trở bà Clinton tiếp tục chạy đua tổng thống năm 2020.
Kịch bản tương tự cũng xảy ra nếu ông Trump thắng cuộc. Hầu hết đảng viên Dân chủ (và một số đảng viên Cộng hòa), những người vừa “phục hồi” sau cú sốc bà Clinton bị nhà tỷ phú đánh bại, sẽ coi ưu tiên số một là ngăn chặn ông Trump chạy đua tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.
Tỷ phú New York chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn trong việc điều hành chính phủ, trong bối cảnh các kế hoạch của ông vốn bị những người hoạch định chính sách chỉ trích gay gắt.
Đối nội khó khăn
Nói như vậy không có nghĩa là nước Mỹ sẽ không đạt nổi một tiến bộ nào trong nhiệm kỳ tổng thống mới. Đảng Dân chủ và Cộng hòa vẫn có thể đồng quan điểm về một số vấn đề nhất định.
Chính phủ kế nhiệm ít nhất có thể ban hành luật pháp hỗ trợ việc hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng lạc hậu, tiến hành cải cách hệ thống thuế, đặc biệt là giảm thuế cho các doanh nghiệp và tăng thuế đối với người giàu.
Thậm chí quốc hội và chính phủ có thể thống nhất đưa ra những cải cách đối với chương trình bảo hiểm y tế “ObamaCare”, thành tựu quan trọng của Tổng thống Obama nhưng còn vấp phải không ít trục trặc trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, các vấn đề còn lại đòi hỏi sự hợp tác giữa tổng thống và quốc hội sẽ khó được giải quyết trong một sớm một chiều. Một trong số đó là cải cách nhập cư, câu chuyện gây nhiều tranh cãi ở Mỹ cũng như châu Âu.
Vấn đề khác cần quan tâm là thương mại. Cả Trump và Clinton đều phản đối hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) mặc dù thỏa thuận này có lợi cho kinh tế và vị thế lâu dài của Mỹ trên trường quốc tế. Khó khăn càng gia tăng trong bối cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công tăng lên do chính phủ không cắt giảm chi tiêu.
Chính sách ngoại giao khó đoán định
Tác động của cuộc bầu cử lên lĩnh vực đối ngoại có phần khác so với đối nội, do hiến pháp Mỹ trao cho tổng thống quyền lực rất lớn trong lĩnh vực này.
Theo hiến pháp, tổng thống là quan chức liên bang chịu trách nhiệm tối cao về các mối quan hệ đối ngoại của Mỹ. Tổng thống có thể triển khai (hoặc từ chối triển khai) lực lượng quân sự mà không cần sự chấp thuận của quốc hội.
Tổng thống còn có thể thay đổi chính sách đối ngoại thông qua đàm phán "hiệp định hành pháp" với nước khác mà không cần đến sự phê chuẩn của Thượng viện. Tổng thống Obama trên thực tế đã dùng quyền hành pháp để nới lỏng các rào cản thương mại và du lịch với Cuba trong thời gian qua.
Nếu trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ, bà Clinton được dự đoán sẽ sử dụng quyền hạn rộng lớn trên để thiết lập “vùng an toàn” ở Syria, cung cấp thêm vũ khí phòng thủ cho Ukraine, có những biện pháp cứng rắn hơn với Triều Tiên nếu nước này tiếp tục chương trình hạt nhân và tên lửa.
Chính sách đối ngoại của cường quốc số một thế giới sẽ khó đoán định hơn nhiều nếu người bước chân vào Nhà Trắng là Donald Trump. Ông dù sao cũng không phải là một chính trị gia. Những phát ngôn, tuyên bố của vị tỷ phú về chính sách đối ngoại bị chỉ trích là “mập mờ”, “thiếu hiểu biết” và không khác gì một mớ hỗn độn.
Chúng ta chỉ có thể dự đoán rằng nước Mỹ dưới sự lãnh đạo của Trump nhiều khả năng sẽ lánh xa những đồng minh truyền thống ở châu Âu, châu Á và tách biệt khỏi Trung Đông.
Tương lai Mỹ ra sao sau cuộc bầu cử tổng thống vẫn còn là một câu hỏi mở. Điều duy nhất mà chúng ta có thể khẳng định là cuộc bầu cử này sẽ tác động mạnh mẽ tới 96% dân số còn lại của thế giới không kém gì người dân Mỹ.

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

Chiến dịch làm ngơ trước phán quyết 'đường lưỡi bò' của Trung Quốc

Truyền thông Trung Quốc đang nỗ lực để thế giới biết rằng họ "thực sự, chắc chắn và tuyệt đối không quan tâm đến phán quyết 'đường lưỡi bò'".
Trung Quốc sáng qua tung ra một video ca nhạc với tựa đề "vụ kiện Biển Đông, ai quan tâm?". Video do trang doo.cc và Qing Wei Studios, một đơn vị có liên quan tới Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, đăng tải, theo Washington Post.
Video ghép nối hình ảnh các chiến hạm Trung Quốc cùng hàng loạt đoạn clip nhỏ quay cảnh những người trẻ tuổi nước này thể hiện sự "không quan tâm" tới phán quyết mà Tòa Trọng tài do Liên Hợp Quốc bảo trợ ở The Hague, Hà Lan, vừa công bố bằng cách lặp đi lặp lại câu "Biển Đông, ai để ý?" trên nền nhạc điện tử.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc thể hiện "thái độ phớt lờ" khi từ chối giải thích tòa đưa ra phán quyết như thế nào.

Xinhua là hãng thông tấn chính thống đầu tiên của Trung Quốc lên tiếng về vụ việc, bác bỏ phán quyết từ Tòa Trọng tài. Hãng này nhấn mạnh Trung Quốc "không chấp chận và không công nhận phán quyết yếu kém" của tòa về "đường lưỡi bò".

People's Daily Global Times không lâu sau đăng các bài viết gọi phán quyết của tòa là "vô nghĩa", "trống rỗng" nhưng lại không cung cấp thông tin chi tiết, khiến vô số người dùng mạng Trung Quốc không hiểu họ đang muốn nói đến vấn đề gì, quan sát viên Emily Rauhala và Simon Denyer từ Washington Post cho hay. "Phán quyết gì vậy?" là câu hỏi chung của nhiều người.

"Không chấp nhận. Không tham gia. Không thừa nhận. Không thực hiện" là thông điệp được đăng tải bằng tài khoản mạng xã hội Weibo của tờ People’s Daily.

Chương trình tin tức buổi tối Xinwen Lianbo của Kênh truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) mở đầu bằng thông tin về những cuộc gặp mặt giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình với các quan chức cấp cao Liên minh châu Âu (EU) rồi tiếp đó mới đến tin về Biển Đông. Không đề cập đến vụ kiện nhưng biên tập viên của chương trình lại nhấn mạnh Bắc Kinh sẽ phớt lờ phán quyết.

Bên cạnh đó, một số trang tin tức nước ngoài cũng bị chặn ở Trung Quốc.

Tại The Hague, các sinh viên Trung Quốc đã dành ba tháng soạn thảo một văn bản dự đoán về việc phán quyết từ Tòa Trọng tài sẽ bất lợi cho Trung Quốc, chỉ để thể hiện sự thờ ơ của mình trước vụ kiện.

"Chúng tôi không thể tin một vụ kiện kỳ lạ như vậy lại có thể được chuyển tới The Hague, thủ phủ của luật pháp quốc tế", Xinhua dẫn lời sinh viên Peng Qinxuan nói. Một học sinh khác tên Wang Zhili cho rằng truyền thông phương Tây "đã quá phiến diện về vụ việc".

Trở lại Trung Quốc, Global Times dùng từ "không biết xấu hổ" để miêu tả Tòa Trọng tài, đồng thời so sánh phán quyết vụ kiện Biển Đông là "một đống giấy lộn".

Ngoài tập trung đăng những bản tin, bài viết thể hiện sự không quan tâm của mình, Trung Quốc cũng nỗ lực khắc họa bản thân như một bên bị chèn ép trong vụ kiện Biển Đông.

Hôm 11/7, tờ People's Daily đăng một bài xã luận cho rằng Bắc Kinh "là nạn nhân" trong tranh chấp Biển Đông, khi Tòa Trọng tài sắp công bố phán quyết. Trên trang nhất của báo này, tác giả bài viết nhận xét vụ kiện mà Philippines đưa ra là một "âm mưu bên ngoài nhằm làm suy yếu và làm bẽ mặt Bắc Kinh".
Tòa Trọng tài hôm qua ra phán quyết, khẳng định Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi quyền lịch sử với các nguồn tài nguyên bên trong "đường lưỡi bò", và tuyên bố đòi quyền lịch sử dựa trên "đường lưỡi bò" của Trung Quốc đi ngược lại Công ước của Liên Hợp Quốc.
Trong khi truyền thông Trung Quốc dành nhiều bình luận tiêu cực về phán quyết của tòa thì hàng loạt hãng thông tấn, cơ quan báo chí lớn trên thế giới lại đồng loạt ca ngợi phán quyết.
Reuters dẫn lời ông Ian Storey, chuyên gia tại Viện ISEAS - Yusof Ishak, Singapore, nhận định "phán quyết này là một đòn giáng về pháp lý vào tuyên bố quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông".
Hãng tin AP dẫn lời một giáo sư về kinh tế chính trị châu Á miêu tả phán quyết của tòa đã tạo ra một "thời khắc chuyển mình" của khu vực.
Guardian nhấn mạnh "Bắc Kinh đã thua trong một vụ kiện quốc tế quan trọng đối với các rạn san hô và bãi cạn chiến lược có khả năng mang đến cho họ quyền kiểm soát những vùng biển tranh chấp ở Biển Đông". Theo tờ báo này, phán quyết của tòa hoàn toàn có lợi cho Philippines và sẽ gia tăng các áp lực ngoại giao toàn cầu lên Trung Quốc, khiến Bắc Kinh phải thu hẹp quy mô hoạt động quân sự ở Biển Đông. Phán quyết đồng thời vô hiệu hóa "đường 9 đoạn" mà Trung Quốc vẽ ra.
 

Láng giềng của bạn là kẻ thù tự nhiên của bạn và láng giềng của láng giềng của bạn là bạn của bạn

Nhà chiến lược Kautilya người Ấn Độ (370-286 TCN) từng nói: “Láng giềng của bạn là kẻ thù tự nhiên của bạn và láng giềng của láng giềng của bạn là bạn của bạn”. Trong quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thường không có chỗ cho tình cảm cá nhân, mà là lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Khi một quốc gia như Trung Quốc mang ngoại tệ, công nghệ, con người cùng những dự án đầu tư vào Camphuchia cũng có nghĩa là họ muốn đổi lại được sự ủng hộ của ngài thủ tướng này trên diễn đàn khu vực và đa phương, kể cả song phương về vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng giỏi trong chiêu trò biến Camphuchia thành quốc gia quá lệ thuộc vào họ như Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á tại Australia, cho rằng việc nước này tiếp tục ủng hộ Trung Quốc không có gì đáng ngạc nhiên. Campuchia lệ thuộc vào Trung Quốc về cả viện trợ, thương mại và đầu tư. Trung Quốc là nhà cung cấp viện trợ nước ngoài lớn nhất cho Campuchia kể từ 2010. Đáp lại, năm 2012, với vai trò chủ tịchSEAN, Campuchia đã từ chối đề cập đến những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, khiến hiệp hội lần đầu tiên không thể đưa ra tuyên bố chung khi kết thúc hội nghị thượng đỉnh và mới đây, tại một hội nghị cấp cao diễn ra tại Côn Minh (TQ), cũng nhìn thấy bóng dáng của Camphuchia sau đó liên quan đến bản tuyên bố chung. Chúng ta cũng không xa lạ gì những cái bắt tay, những buổi tiệc chào đón cùng những cam kết hỗ trợ, đầu tư vẫy gọi từ đất nước Trung Quốc đối với các nhà lãnh đạo đất nước Chùa Tháp này.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã bay sang Campuchia gặp ông Hunsen và khoe rằng đạt đồng thuận về Biển Đông
Cuộc gặp giữa ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị với Thủ tướng Hunsen, tháng 4/2016 tại Côn Minh, Trung Quốc

                                                                                                            Lê Hòa
 
 
 
 




Thủ tướng Campuchia tuyên bố không ủng hộ phán quyết của PCA (Một quốc gia lệ thuộc quá nhiều vào TQ)

Một quốc gia không đứng vững trên lập trường của mình, thiếu tính tự chủ trong phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động đối ngoại; không giám công nhận một sự thật trắng - đen về mặt lịch sử và cơ sở pháp lý. Một quốc gia không có đường biên giới chung với Trung Quốc nhưng bị lệ thuộc quá nhiều vào họ. Bị TQ chơi bài chính trị thì sớm muộn cũng phải trả một cái giá đắt. Người Trung Quốc là thế, thưa ngài Thủ tướng Camphuchia Hun Sen.
"Đây không phải là vấn đề về luật pháp, nó hoàn toàn về chính trị. Tôi sẽ không ủng hộ bất kỳ phán quyết nào của tòa", AFP hôm qua dẫn lời thủ tướng Campuchia nói.
PCA được cho là sắp đưa ra phán quyết về vụ việc Philippines kiện đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông trong đầu tháng 7. Giới quan sát nhận định phán quyết sẽ có lợi cho Manila.
Ông Hun Sen hôm qua cũng phủ nhận cáo buộc cho rằng Phnom Penh chịu áp lực từ Bắc Kinh nên đã "góp phần" gây ảnh hưởng tới bản tuyên bố chung của ASEAN tuần trước.
Ông miêu tả việc cáo buộc Phnom Penh gây khó dễ cho bản tuyên bố chung là "không thể chấp nhận được", "rất bất công với Campuchia" và "lợi dụng Campuchia để chống lại Trung Quốc".
Dù các Ngoại trưởng ASEAN trong cuộc họp tuần trước cùng người đồng cấp Trung Quốc tại Côn Minh vẫn ra bản tuyên bố chung nhưng sự kiện này đã kết thúc trong ồn ào khi hiệp hội bị cho là "chia rẽ" về vấn đề Biển Đông. Sau khi Malaysia đưa ra tuyên bố chung bày tỏ "quan ngại nghiêm trọng" về hoạt động xây dựng ở Biển Đông, văn bản này đã bị thu về.
Một số tờ báo dẫn các nguồn tin ngoại giao ASEAN cho hay Lào, Campuchia và Myanmar là những nước phản đối bản tuyên bố đầu tiên.
Vụ việc này gợi lại sự cố hồi năm 2012, các Ngoại trưởng ASEAN lần đầu tiên không đưa ra được tuyên bố chung khi họp tại Phnom Penh, trong năm Campuchia làm chủ tịch ASEAN.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền phi pháp với hầu hết diện tích Biển Đông, bất chấp sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Nước này ồ ạt bồi đắp, cải tạo 7 bãi đá tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam, biến chúng thành đảo nhân tạo và xây dựng cơ sở phi pháp trên đó. Bắc Kinh từ đầu năm nay còn lộ rõ ý đồ quân sự hóa khi bố trí hệ thống tên lửa, radar và chiến đấu cơ tại Biển Đông.
Trung Quốc được cho là đang nỗ lực lôi kéo sự ủng hộ của các nước trước khi Toà trọng tài Thường trực được thành luật theo Công ước luật biển (UNCLOS) năm 1982 ra phán quyết về vụ kiện "đường lưỡi bò" do Philippines khởi kiện. Bắc Kinh không tham gia phiên xử và nói sẽ không công nhận bất cứ phán quyết nào dù nước này là thành viên của UNCLOS và theo quy định phải có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của tòa.
Theo: Khánh Lynh
Sự khác nhau trong danh sách của Trung Quốc và tuyên bố các nước về lập trường đối với vụ kiện "đường lưỡi bò". Đồ họa: WSJ. Xem ảnh lớn tại đây
 

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Mỹ sẽ “san phẳng” toàn bộ đảo Trung Quốc ở Biển Đông nếu xảy ra chiến sự

VietTimes -- Lực lượng tàu ngầm Mỹ sẽ nhằm vào tất cả các mục tiêu quan trọng, từ căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo, đảo Phú Lâm căn cứ Du Lâm quần đảo Hải Nam và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc.

My se “san phang” toan bo dao Trung Quoc o Bien Dong neu xay ra chien su - Anh 1
Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ
Trong khi quân đội Trung Quốc (PLA) vẫn còn rất xa mới đạt được sức mạnh tổng hợp quân sự Mỹ, trong tương lai gần, PLA đang nỗ lực giành được ưu thế trước sức mạnh của Mỹ trong một khu vực có giới hạn hẹp bên cạnh Trung Quốc.
Đó là một trong những kết luận thuộc một bản báo cáo dài 430 trang của RAND công bố gần đây, được soạn thảo bởi 14 học giả và có tên gọi là "Tương quan quân sự Mỹ-Trung : Lực lượng, địa lý và sự phát triển cân bằng sức mạnh, giai đoạn từ 1996-2017".
Những nghiên cứu nhấn mạnh rằng Trung Quốc đạt được những tiến bộ với tốc độ đáng ngạc nhiên trong hầu hết các lĩnh vực quân sự, nhưng nhấn mạnh lực lượng quân sự Mỹ vẫn luôn giữ được ưu thế trong hầu hết các tiêu chí về quân sự và quốc phòng.
Cụ thể hơn, các học giả của RAND phân tích mười tiêu chí khác nhau của năng lực quân sự được cho là rất quan trọng trong những tình huống một cuộc xung đột Trung-Mỹ trên quần đảo Trường Sa, nghiên cứu những khả năng có thể xảy ra trong bốn khoảng thời gian khác nhau từ năm 1996 đến năm 2017. Các phân tích đặc biệt chú ý đến vị trí địa lý và khoảng cách thời gian trong mỗi kịch bản.
Trong các kịch bản xung đột, các chuyên gia RAND đã phân tích ưu thế và nhược điểm của cả hai lực lượng Trung – Mỹ theo mười tiêu chí trong từng giai đoạn thời gian mà theo đó, mỗi bên có thể đạt được mục đích chính trị đề ra, bên còn lại sẽ gặp nhiều khó khăn và không thể đạt được.
Mười tiêu chí đó bao gồm: Tập kích căn cứ không quân Trung Quốc, ưu thế tác chiến đường không của Mỹ với Trung Quốc, khả năng Mỹ thâm nhập không phận, tập kích đường không không phận Mỹ, chiến tranh chống tấn công bề mặt của Trung Quốc, chiến tranh chống tác chiến bề mặt của Mỹ, tấn công trên tầng không gian Mỹ, tấn công trên tầng không gian Trung Quốc, Mỹ và Trung Quốc trong chiến tranh mạng, năng lực tấn công hạt nhân.
Xét trên không gian chiến trường Thái Bình Dương, Mỹ chiếm ưu thế vượt trội trên mọi lĩnh vực, nhưng trong không gian chiến trường hẹp như biển Đông và quần đảo Trường Sa, các học giả RAND gặp những khó khăn nhất định.
Nhìn từ góc độ đấu tranh địa chính trị, cả Mỹ và Trung Quốc mặc dù có nhiều mâu thuẫn khác nhau, nhưng cả hai bên đều không sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn diện, nhưng hai lực lượng đang lao vào một cuộc đấu tranh ác liệt giành lợi thế kiểm soát chiến trường đặc biệt quan trọng có trị giá thương mại đến 5000 tỷ USD này.
My se “san phang” toan bo dao Trung Quoc o Bien Dong neu xay ra chien su - Anh 2
Tầm tấn công của các tên lửa đạn đạo Trung Quốc
Tình đến giai đoạn năm 1996, Mỹ đã thành công trong việc thiết lập một vành đai bao vây kiềm chế Trung Quốc bằng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ các nước đồng minh và đe dọa kiểm soát mọi hoạt động phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng. Sự phát triển nhanh chóng sức mạnh quân sự Trung Quốc trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo, không quân, hải quân và các lĩnh vực khác dường như đã đẩy tầm ảnh hưởng của Mỹ khỏi vùng nước biển Đông, các tàu sân bay Mỹ đang nằm trong tầm tên lửa đạn đạo chống tàu của Trung Quốc, sự xuất hiện những đảo nhân tạo có đường băng quân sự tiếp tục củng cố vững chắc quan điểm chiến lược 2D/AD của Bắc Kinh trên vùng nước Biển Đông.
Từ góc độ nhận xét của các học giả RAND, có thể nhận thấy: Nếu trong một cuộc xung đột cục bộ thời gian ngắn trên một vùng nước hẹp như biển Đông, Trung Quốc dường như có thể đẩy lùi được các cụm tàu sân bay tấn công chủ lực ra khỏi vùng nước biển Đông và khống chế toàn bộ khu vực bằng lực lượng không quân hải quân xuất phát từ các sân bay mới được xây dựng.
Nhưng lực lượng thực sự ngăn cản hải quân Trung Quốc thực hiện điều này nằm sâu trong lòng biển Đông, đó là hạm đội tàu ngầm của Hải quân Mỹ, lực lượng mà sức mạnh hỏa lực có thể nhanh chóng phá hủy hoàn toàn các cơ sở hạ tầng quân sự, căn cứ sân bay và các đơn vị tên lửa chiến lược của Trung Quốc trong loạt phóng tên lửa hành trình Tomahawk đầu tiên.
Nếu trong tính toán của các học giả RAND có đưa yếu tố tàu ngầm tấn công hạt nhân vào bài toán chiến lược chiến dịch Biển Đông, khả năng Trung Quốc có thể tiến hành một cuộc xung đột giới hạn hẹp là rất thấp:
Tương quan lực lượng tàu ngầm
Tương quan lực lượng tàu ngầm: Trung Quốc hiện có 70 chiếc tàu ngầm, trong đó có 3 chiếc tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Hán Type 091 phát triển từ những năm 1970, 6 chiếc lớp Thượng Type 093 phát triển từ những năm 1980 và gần đây nhất đã phát triển thêm 3 chiếc lớp Thượng Type 093G , Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển tàu ngầm nguyên tử tấn công Type – 095 với số lượng 5 chiếc đến năm 2020.
Ngoài ra Trung Quốc có khoảng 12 tàu ngầm diesel điện lớp Kilo, 13 chiếc lớp Tống, 2 chiếc lớp Nguyên Type 041, 6 chiếc lớp Romeo Type 033, 17 chiếc lớp Minh Type 035G, 1 chiếc SSG (mang tên lửa dẫn đường)- Tổng số tàu ngầm diesel điện khoảng 51 chiếc các loại.
Tất cả các tàu ngầm Trung Quốc, ngoại trừ Type 095 đều là những chiến hạm đã có nhiều thời gian sử dụng, nếu không tính các tàu ngầm diesel điện lớp Kilo của Nga thì các tàu của Trung Quốc có đặc điểm là tiếng ồn lớn, rất dễ bị phát hiện. Các tàu ngầm tấn công của Trung Quốc được mang tên lửa chống tàu, nếu tính cả tên lửa Club – S do Nga cung cấp thì tầm bắn đến khoảng 300 km.
My se “san phang” toan bo dao Trung Quoc o Bien Dong neu xay ra chien su - Anh 3
Tương quan lực lượng Mỹ - Trung Quốc
Hoạt động trực tiếp trên chiến trường Biển Đông, lực lượng tàu ngầm Mỹ có thể tham chiến nhanh chóng là lực lượng tàu ngầm Hạm đội 7 có 4 chiếc tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles, ngoài các vũ khí trên biển thông thường còn có 12 ống phóng tên lửa hành trình Tomahawk có tầm bắn từ 1.300 km đến 1.700 km. Lực lượng chủ lực trên Biển Đông là lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 với 22 tàu ngầm lớp Los Angeles và Virgina mang được tên lửa hành trình Tomahawk, 3 chiếc Seawolf chống ngầm và hai chiếc tàu ngầm lớp Ohio mang 154 tên lửa hành trình Tomahawk.
Hạm đội 3 Hải quân Mỹ là hạm đội có lực lượng tên lửa hành trình tấn công mặt đất mạnh nhất và cũng là hạm đội tàu ngầm có khả năng chống ngầm tốt nhất. Với các tàu ngầm theo biên chế, lực lượng tàu ngầm của hạm đội 3 Hải quân Mỹ và hạm đội 7 hoàn toàn khống chế được vùng nước biển Hoa Đông, Biển Đông và hướng ra eo biển Malacca.
Đại đa số các tàu ngầm lớp Los Angeles được phát triển từ năm 1972 đến năm 1996, là lớp tàu tấn công chủ lực của Hải quân Mỹ và cũng là lớp tàu thành công nhất trong lực lượng tàu ngầm Mỹ.
Sức mạnh lực lượng chống ngầm
Biển Đông, biển Hoa Đông là nơi lực lượng tàu ngầm hạm đội 7 và 3 hoạt động mạnh nhất, trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đến những năm đầu của thế kỷ 21. Vịnh Cam Ranh là quân cảng và cũng là căn cứ của lực lượng hải quân Liên xô, chính vì vậy, tại Biển Đông, Mỹ đã thường xuyên tiến hành các hoạt động tuần tiễu sẵn sàng chiến đấu của tàu ngầm Mỹ, đồng thời các hoạt động chống ngầm ở khu vực đã giúp cho người Mỹ theo dõi rất sát các hoạt động của tàu ngầm đối phương, bao gồm cả tàu ngầm của Liên xô và Trung Quốc
Trong giai đoạn sau này, người Mỹ đã tập trung sự chú ý vào hải cảng quân sự của tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam, với hệ thống công nghệ chống ngầm hiện đại từ không ảnh vệ tinh, các hệ thống truy tìm, kiểm soát tàu ngầm trên biển Đông. Những vụ va chạm giữa hải quân Trung Quốc và các phương tiện trinh sát, tìm kiếm của Mỹ đã cho thấy rõ điều đó.
Ví dụ: tháng 4.2001, vụ va chạm giữa chiếc máy bay trinh sát điện tử và chống ngầm EP-3 với máy bay tiêm kích J-8 của Trung Quốc, năm 2009 ngư dân Trung Quốc đã tấn công tàu USNS Impeccable và USNS Victorious trong khu vực EEZ, cũng trong tháng 6.2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với một tàu khu trục Mỹ kéo theo anten sonar mảng pha. Điều đó cho thấy, lực lượng Hải quân Mỹ theo dõi rất chặt chẽ mọi hoạt động của lực lượng tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông.
Căn cứ của đồng minh
Ngoài những lợi thế về công nghệ, lực lượng tàu ngầm của Mỹ còn được một lợi thế quan trọng hơn trong cuộc chiến ngầm dưới biển Đông, đó là việc được sử dụng các căn cứ của đồng minh.
My se “san phang” toan bo dao Trung Quoc o Bien Dong neu xay ra chien su - Anh 4
Những căn cứ quân sự mà Mỹ có thể sử dụng ở Philiphines
Trong điều kiện căng thẳng gia tăng, Trung Quốc sẽ buộc phải đưa lực lượng tàu ngầm của mình vào vùng nước biển Đông đến quần đảo Trường Sa. Các hạm tàu mà Trung Quốc có thể sử dụng được chỉ có thể là lực lượng tàu ngầm chiến thuật bao gồm 06 tàu lớp Minh ES5F (Ming); 10 tàu lớp Romeo - Type 033; 04 tàu lớp Tống (Song) Type 039G hoặc 039G1; 01 tàu lớp Kilo. Lực lượng này là tàu ngầm lớp diesel điện phát triển từ những năm 1970, trên thực tế đã lỗi thời và rất dễ bị phát hiện đo tiếng ồn lớn và khoảng cách phải cơ động khá xa.
Các tàu ngầm nguyên tử lớp Los Angeles Mỹ có thể hành trình lâu dài dưới nước tránh sự phát hiện của không quân Trung Quốc, sử dụng các hải cảng quân sự Philiphines. Khoảng cách từ hải cảng này đến Trường Sa rất gần và các tàu ngầm nguyên tử Mỹ có khả năng triển khai nhanh sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu trên khoảng cách giữa quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Ngoài ra, các tàu ngầm nguyên tử tấn công Mỹ còn có một lợi thế rất lớn là sử dụng các nguồn thông tin tình báo từ các nước đồng minh như Nhật Bản, Philiphines, Đài Loan cũng như sự yểm trợ (có thể không tham gia chiến đấu) để phục vụ cho mục đích ngăn chặn tàu ngầm Trung Quốc xuất kích. Không bị ngăn chặn bởi các thành phần lực lượng cấu thành hệ thống AD/2D Trung Quốc, các tàu ngầm nguyên tử Mỹ, trang bị tên lửa Tomahawk có thể tiếp cận được khu vực tấn công thuận lợi nhất, đặt tất cả các cơ sở hạ tầng quân sự và vũ khí trang bị của PLA vào tầm bắn của loại tên lửa hành trình này.
Với những lợi thế trên, trong tình huống xảy ra mâu thuẫn có thể dẫn đến nguy cơ bùng phát chiến tranh dồn nén thời gian, lực lượng tàu ngầm Mỹ sẽ nhằm vào tất cả các mục tiêu quan trọng, từ căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo, đảo Phú Lâm căn cứ Du Lâm quần đảo Hải Nam và ngay cả các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo chống tàu trên bờ biển Trung Quốc.
Điều đó có nghĩa là, nếu xảy ra xung đột giữa Mỹ với Trung Quốc, ngay từ loạt đạn đầu tiên xuất phát từ tàu ngầm có thể hủy diệt tất cả các căn cứ quân sự trên các đảo phi pháp đó, bao gồm cả đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và phong tỏa hoạt động của đảo Hải Nam. Khả năng giành thắng lợi như đẩy lùi lực lượng hải quân Mỹ, phá hủy được tàu chiến hoặc tàu sân bay của Mỹ thực sự rất nhỏ.
Trung Quốc "học bài" Mỹ
Trước nguy cơ đe dọa bằng lực lượng tàu ngầm Mỹ, Trung Quốc cố gắng đáp trả bằng giải pháp xây dựng các sân bay trực thăng trên các đảo nhân tạo nhằm tăng cường khả năng tuần thám chống ngầm. Phối hợp cùng các tàu khu trục mang trực thăng vận tải chống ngầm và máy bay chống ngầm tuần tra trên biển Đông. Hơn thế nữa, Trung Quốc đe dọa sẽ đưa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đầu đạn hạt nhân vào vùng nước Thái Bình Dương, trên khu vực có thể tấn công vào nước Mỹ. Ngoài ra, Trung Quốc cũng muốn xây dựng một hệ thống chống ngầm tương tự như hệ thống IUSS với thành phần chính là SOSUS của Mỹ trên biển Đông và biển Hoa Đông
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, trong một bài phát biểu ngày 13.5.2016, đề cập đến phương án sử dụng các tàu ngầm không người lái ở Biển Đông, chú trọng đến các vùng nước nông rộng lớn nhằm kiểm soát chặt chẽ lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên vùng biển này.
Trong tương lai, Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng sẵn sàng chiến đấu trên biển Đông với mục đích kiềm chế các hoạt động hạn chế Tự do hàng hải mà Trung Quốc có thể đặt ra. Đồng thời các đơn vị Hải quân bao gồm tàu sân bay, khu trục hạm và đặc biệt quan trọng là lực lượng tàu ngầm sẽ là lực lượng then chốt để răn đe, ngăn chặn và sẵn sàng tấn công trong tình huống cần thiết.
Nguồn: http://www.baomoi.com.forsearch.net/soi-bien-my-quan-thao-bien-dong-khien-trung-quoc-khiep-so/c/19538693.epi