Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Vũ khí thắng “giặc nội xâm”

Vũ khí thắng “giặc nội xâm”


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng là một loại “giặc nội xâm”. Thứ “giặc” này hết sức nguy hiểm; chúng tiềm ẩn tinh vi, giấu mặt, trá hình, luồn lách, len lỏi trong từng ngõ ngách của cuộc sống, ngấm ngầm làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, trong cuộc chiến đấu khốc liệt, trực tiếp đối mặt với kẻ thù để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, có những người bất chấp mũi tên, hòn đạn, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, nhưng trong hòa bình xây dựng lại sa vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…
Để chiến thắng thứ “giặc nội xâm” này, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự răn mình; các tổ chức đảng phải tìm ra những biện pháp hữu hiệu. Trong cuộc đấu tranh ấy, việc đẩy mạnh tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhất.
Trong điều kiện hiện nay, việc tiến hành tự phê bình và phê bình khó khăn, phức tạp hơn trước; bởi có nhiều lực cản chi phối, nhất là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng. Tự phê bình và phê bình thực sự là một cuộc đấu tranh giữa mặt tích cực và tiêu cực, tiến bộ và lạc hậu, cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai… diễn ra hằng ngày ngay trong bản thân từng cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.
Tuy nhiên, trong khi đa số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng và thực hiện tốt, thì vẫn còn không ít nơi thực hiện chưa tốt tự phê bình và phê bình. Biểu hiện thường thấy trong sinh hoạt ở những nơi này là: tình trạng “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”, “trông trước, ngó sau”… Cũng còn nhiều người khi phê bình đồng chí, đồng đội, chưa nghiên cứu, tìm hiểu sâu bản chất của sự việc; phương pháp phê bình còn nặng về chủ quan, áp đặt và thiếu tôn trọng người được phê bình. Điều đáng bàn là: một số người vì động cơ cá nhân, vì “cái tôi”, thay vì giúp nhau cùng tiến bộ, lại lợi dụng phê bình để gây bè, kéo cánh, vạch khuyết điểm của người khác theo kiểu “bới lông, tìm vết” nhằm “hạ bệ” nhau. Nhưng với cấp trên, họ không nói thẳng, nói thật, chỉ nhấn mạnh ưu điểm theo kiểu “tâng bốc”, “nịnh bợ”, “vuốt ve”... Những kiểu “đấu tranh” ấy không chỉ làm biến dạng vũ khí tự phê bình và phê bình, mà nguy hại hơn, nó còn làm giảm sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng.
Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, mỗi cán bộ, đảng viên cần “có tâm” và “đủ tầm” chiến thắng “cái tôi”. Cái “tâm” ấy chính là động cơ, mục đích tự phê bình và phê bình; cái “tầm” được thể hiện đầy đủ nhất ở cách thức, phương pháp đấu tranh phê bình: phê bình cái gì? phê bình như thế nào? có trung thực, thẳng thắn, kiên quyết không?
Người có tâm và đủ tầm, đủ sức chiến thắng “cái tôi” trong tự phê bình và phê bình sẽ biết gạn đục, khơi trong để phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện mình. Điều đó sẽ làm cho tự phê bình và phê bình trở thành thứ vũ khí sắc bén nhất để đánh bại “giặc nội xâm”.
PHIẾM ĐÌNH

Tính giai cấp và tính xã hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Tính giai cấp và tính xã hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 là sự kết tinh giữa “ý Đảng với lòng Dân”, mang bản chất giai cấp công nhân và có tính xã hội sâu sắc; trong đó, quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được hiến định đầy đủ, toàn diện.
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) - văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng nhất của nước ta, được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-11-2013; có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2014, đang được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân triển khai thực hiện. Theo dõi quá trình xây dựng, hình thành và thông qua, dư luận quốc tế và trong nước đánh giá cao Hiến pháp năm 2013 về nhiều khía cạnh, nổi bật là: bảo đảm tính thực tiễn, khoa học, phù hợp với giá trị, chuẩn mực của Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Và thực sự là bản Hiếp pháp hội tụ ý chí, nguyện vọng của toàn dân và Đảng cầm quyền, thể hiện sâu sắc tính giai cấp, tính xã hội và tính nhân dân. Song, một số “nhà khoa học”, “nhà chính trị”, “nhà hoạt động nhân quyền”,… ở trong và ngoài nước, với bản chất thù địch, chống phá đã “đăng đàn” cho rằng, bản Hiến pháp “nặng” về tính giai cấp, còn tính xã hội thì “mờ nhạt”, quyền con người, quyền công dân bị vi phạm. Đây là những quan điểm hoàn toàn sai trái, cố tình xuyên tạc, luận giải hồ đồ, thiếu trách nhiệm về Hiến pháp năm 2013.
Trước hết, bàn về tính giai cấp của hiến pháp. Từ thực tế lịch sử của xã hội tư sản Pháp những năm 1848-1851, C. Mác đã chỉ ra rằng, hiến pháp là kết quả sự vận động của đời sống chính trị, không những nội dung mà cả hình thức của nó đều chịu tác động trực tiếp của tiến trình đấu tranh giai cấp. Đó là ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên thành luật để bảo vệ giai cấp mình. Vì vậy, nó mang bản chất của giai cấp thống trị xã hội. Đây là một trong các phát kiến vĩ đại của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, đưa lại cho Học thuyết của hai ông tính khoa học, cách mạng sâu sắc. Lý luận cũng như lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới đã xác định, pháp luật nói chung, hiến pháp nói riêng là công cụ pháp lý mang tính cưỡng bức của giai cấp nắm quyền lực nhà nước, nhằm quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội; bảo vệ và duy trì trật tự công cộng phù hợp với ý chí, lợi ích của giai cấp cầm quyền. Nhà nước ta ra đời sau Cách mạng Tháng Tám thành công - cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo với nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, mà đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân là điều hiển nhiên, không có gì phải bàn cãi. Song, hoàn toàn khác với bản chất giai cấp của hiến pháp các nhà nước tư sản, Hiến pháp năm 2013 là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đem lại ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Ở nước ta, pháp luật nói chung, Hiến pháp nói riêng là thể hiện ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước XHCN, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi người tôn trọng và tự giác chấp hành. Đó là công cụ pháp lý của Nhà nước để quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của quốc gia, dân tộc; mang lại lợi ích cho số đông chứ không chỉ vì lợi ích của số ít nhà tư bản như trong xã hội tư sản.
Bên cạnh tính giai cấp, cần khẳng định rằng, Hiến pháp năm 2013 có tính xã hội sâu sắc. Trước hết, về mặt lợi ích, do sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, nên Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện đầy đủ lợi ích của toàn thể nhân dân. Cùng với đó, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ Tổ quốc,... đều được hiến định trong Hiến pháp (cụ thể, tại Chương III có 14 điều về vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường). Song, thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong Hiến pháp năm 2013 là quan điểm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân...” (khoản 1, 2, Điều 2). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung và phát triển nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3, Điều 2). Đây là điểm mới quan trọng của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, nguyên tắc “kiểm soát quyền lực” được ghi nhận, là cơ sở để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước và phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những tinh hoa, tư tưởng tiến bộ của các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, tổng kết việc thực hiện Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 thể hiện đầy đủ hơn “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”; xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước; đó là: công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15).
Đặc biệt là, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một số quyền mới. Đó là: quyền sống (Điều 19); quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (khoản 3, Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (khoản 1, Điều 21); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); quyền kết hôn và ly hôn (khoản 1, Điều 36); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43). Những bổ sung này cho thấy, Nhà nước ta nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và hết sức chú trọng đến bảo đảm thực hiện quyền con người theo cam kết và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cho đến nay, lịch sử lập nước (Tuyên ngôn độc lập năm 1945), lập hiến nước ta mới hơn nửa thế kỷ, kể từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và qua 4 lần sửa đổi, bổ sung, thế nhưng nội dung của nó thể hiện rõ tính ưu việt, phát triển và hoàn thiện không ngừng, nhất là về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Các quyền cơ bản đó mang đậm thuộc tính tự nhiên và bất khả xâm phạm, như: quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc,... thể hiện rõ bản chất dân chủ, nhân đạo và tiến bộ của chế độ XHCN, được các quốc gia trên thế giới thừa nhận, đánh giá cao. Điều đó, đồng thời cũng phản bác những luận điệu cho rằng tính xã hội của Hiến pháp năm 2013 “mờ nhạt”, vi phạm quyền con người là hoàn toàn không có cơ sở, phi thực tế, phiến diện.
Chính vì tính xã hội “đậm nét”, quyền con người được hiến định đầy đủ, toàn diện, nên nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều chung nhận xét: Hiến pháp năm 2013 của chúng ta là bản Hiến pháp cô đọng, khúc triết, mạch lạc, dễ hiểu và mẫu mực trên mọi phương diện. Đây cũng là minh chứng rõ ràng không ai có thể phủ nhận. Những luận điệu kích động, xuyên tạc hòng đánh tráo sự thật, đi ngược lại bản chất của vấn đề sẽ chỉ là vô vọng./.
Đại tá, PGS, TS. PHẠM XUÂN MÁT và Đại tá, TS. NGUYỄN HỮU PHÚC
Học viện Chính trị

Học thuyết của V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN còn nguyên giá trị

QĐND - Trung thành và phát triển sáng tạo tư tưởng vũ trang quần chúng bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong điều kiện mới; từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô-viết non trẻ, bảo vệ Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới từ sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, xây dựng nên học thuyết bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, đã nêu lên những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Khẳng định tính tất yếu khách quan của việc bảo vệ Tổ quốc XHCN, V.I. Lê-nin tuyên bố: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, những cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của CNXH” (1) .
V.I. Lê-nin đã đề cập đến mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ CNXH với tính cách là tổ quốc, bảo vệ Nhà nước Xô-viết non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong điều kiện công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN chủ yếu phải chống lại sự tấn công bằng vũ trang của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực phản động mưu toan lật đổ nhà nước XHCN, thì phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN là phải tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trang để bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đề cập đến lực lượng bảo vệ Tổ quốc XHCN, V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh đến lực lượng của quần chúng lao động, của công - nông - binh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự tổ chức, quản lý của chính quyền Xô-viết. V.I. Lê-nin đã chỉ ra sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN là sức mạnh tổng hợp, cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. V.I. Lê-nin đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN, quan tâm đến việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò tổ chức, quản lý của Nhà nước Xô-viết trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN.
V.I. Lê-nin đã đề cập đến khả năng phòng thủ đất nước, đặc biệt là vấn đề xây dựng và củng cố quốc phòng: “Chính vì chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi phải có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà”(2) và “Nghĩa vụ tuyệt đối của toàn thể quần chúng lao động là đem hết sức mình ra để khôi phục và tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước”(3).
Vấn đề tổ chức, xây dựng quân đội kiểu mới, Hồng quân công - nông cũng được V.I. Lê-nin đề cập một cách khẩn trương, nghiêm túc và toàn diện. Chỉ mấy tháng sau Cách mạng Tháng Mười, vào đầu năm 1918, V.I. Lê-nin đã ký sắc lệnh thành lập Hồng quân và Hải quân công - nông. Người đã chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới, nhất là những vấn đề về bản chất giai cấp, tính chất, chức năng, nhiệm vụ; về những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và xây dựng quân đội.
V.I. Lê-nin đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN đi đôi với nhiệm vụ xây dựng CNXH. V.I. Lê-nin viết: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết của chúng ta, thì chúng ta sẽ đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời,… hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”(4).
Thực tiễn công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN đã khẳng định những giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN. Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết của V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN không những có giá trị lịch sử, mà còn có ý nghĩa hiện thực tiếp tục chỉ đạo công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay.
Trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết của V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN, trong quá trình lãnh đạo công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN trên miền Bắc từ năm 1954 và trên cả nước từ sau mùa Xuân 1975, Đảng ta đã đề ra đường lối chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đúng đắn, sáng tạo và đã triển khai tổ chức thực hiện đem lại những thành tựu to lớn, toàn diện, bảo đảm cho Tổ quốc Việt Nam XHCN được bảo vệ vững chắc.
Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN tiếp tục diễn ra trong bối cảnh mới: “Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. So với 10 năm trước, tình hình thế giới và khu vực đã có nhiều thay đổi sâu sắc, có những diễn biến phức tạp mới… Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh kết quả, thành tựu đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, làm xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”.
Trong những điều kiện đó, chúng ta phải tiếp tục trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN phù hợp với điều kiện mới. Phải tiếp tục khẳng định những vấn đề rất cơ bản về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN; kết hợp phương thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang để bảo vệ Tổ quốc; tổ chức và động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. “Làm sao cho kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Phát huy sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của truyền thống và hiện đại; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tư duy mới. Chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và ngày càng hiện đại; xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đặc biệt là xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nước XHCN, của các tổ chức chính trị - xã hội và tính tích cực chính trị, tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của mọi người dân Việt Nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, cả người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam đang định cư, sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc trong công cuộc xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới, biến những tư tưởng của V.I. Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc XHCN thành sức mạnh hiện thực trên đất nước ta.
Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĨNH THẮNG
(1) V.I. Lê-nin, toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ M.1981, tr.102.
(2) V.I. Lê-nin, toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ M.1981, tr.480 - 481.
(3) V.I. Lê-nin, toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ M.1981, tr.153.
(4) V.I. Lê-nin, toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ M. 1981, tr.368.
QĐND, Thứ hai, 21/04/2014