Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Bản chất, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

Thực tiễn ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, tình trạng TDB, TCH rất nguy hiểm. Một trong các vấn đề mấu chốt là cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, các hình thức, biện pháp của các thế lực thù địch từ nước ngoài đang tìm mọi cách thúc đẩy TDB, TCH nội bộ ta ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thiếu niềm tin, hoài nghi, thậm chí phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, đòi Đảng từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ để hướng theo tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên CNXH và thay bằng con đường phát triển tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... GS, TS. Lê Hữu Nghĩa (Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương), Thiếu tướng, GS, TS. Phạm Ngọc Hiền (Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an), Đại tá Nguyễn Đức Khang (Viện Chiến lược, Bộ Quốc phòng) đều khẳng định như vậy. Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, tác phong, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Nhà báo Trần Quang Hà (Báo Nhân Dân) cho rằng, các thế lực thù địch muốn truyền bá lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy, khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra những tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen chế độ.

Theo PGS, TS. Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị - Hành chính quốc qia Hồ Chí Minh), sự suy thoái về tư tưởng chính trị trước hết biểu hiện ở sự phai nhạt lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thậm chí muốn từ bỏ mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam. Biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị còn là sự dao động, thiếu niềm tin, nhất là ở những thời điểm khó khăn của đất nước, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Đại tá, TS. Mẫn Văn Mai (nguyên Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng) cho rằng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị và nêu gương xấu của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, biểu hiện ở sự coi thường tổ chức, kỷ cương, kỷ luật và các nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, lợi dụng trách nhiệm được giao để mưu cầu lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; coi thường lý luận, không chịu học tập, nghiên cứu lý luận, đường lối quan điểm của Đảng, chủ quan, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa; không cố gắng làm tròn chức trách, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó, nói và làm trái với quan điểm, nghị quyết của Đảng; từ đó rơi vào vòng xoáy của chủ nghĩa cơ hội, nhất là cơ hội về chính trị, viết hồi ký, tán phát tài liệu trái phép nhằm làm rối dư luận, kích động các hành vi chống đối Đảng, Nhà nước.

Thực tế các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cho thấy, “tự diễn biến” trước hết và chủ yếu về tư tưởng chính trị. Khi tư tưởng chính trị chệch hướng, tất yếu làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước bị chia rẽ, suy thoái, nguy cơ “tự chuyển hóa”, sụp đổ của thể chế chính trị là điều khó tránh khỏi. Đây là lý do lý giải vì sao những năm qua, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy TDB, TCH về tư tưởng chính trị, trước hết nhằm vào các cơ quan lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nơi hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của đất nước... một cách tinh vi và đa dạng. Đồng chí Nguyễn Văn Nên (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên) nhấn mạnh, từ nhiều năm nay, các thế lực thù địch luôn khai thác, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gắn với nhân quyền để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta.

Theo Đại tá Nguyễn Đức Khang, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất... TS. Cao Đức Thái đặt câu hỏi: Phải chăng trong điều kiện của kinh tế thị trường, thiếu cơ chế quản lý hiệu quả, thiếu công khai minh bạch, thiếu sự giám sát khách quan đã dẫn đến hình thành những điều kiện kinh tế - xã hội, như là nguyên nhân của TDB, TCH trong Đảng và Nhà nước ta? Thiếu tá Mai Tùng Lâm (Phó Trưởng phòng, Cục Tham mưu, Tổng cục An ninh II), Đại tá, PGS, TS. Bùi Trung Thành đưa ra những kịch bản TDB ở Việt Nam có thể xảy ra. Một là, về chính trị. Hai là, từ kinh tế chuyển hóa về chính trị. Ba là, các phần tử biến chất liên kết lại dùng “nội công, ngoại kích” tạo ra “cách mạng màu” theo kiểu “mùa xuân Ả-rập”.

Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, TDB, TCH là sự đề cao, sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, các giá trị văn hóa, đạo đức XHCN; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; thương mại hóa các hoạt động văn hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng... Điều đáng lo ngại là những biểu hiện đó lại hiện hữu ở một số người, tình trạng “chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy huân chương” diễn ra rất phức tạp chưa được khắc phục... Tình trạng “thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đồng chí Cao Văn Thống (Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ủy ban Kiểm tra Trung ương) cho rằng, một bộ phận cán bộ, đảng viên từ suy thoái về tư tưởng chính trị, cũng có thể chuyển sang cả suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống ích kỷ, cá nhân, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; tham nhũng, lãng phí, hám danh, bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân; nói không đi đôi với làm, nói một đằng, làm một nẻo, không chấp hành nghiêm túc quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp, không gương mẫu trong sinh hoạt gia đình.

Những biểu hiện TDB về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề không thể xem thường, bởi vì nhiều khi TDB về đạo đức, lối sống, sự lệch chuẩn giá trị là sự khởi đầu cho TDB về chính trị, tư tưởng. Điều đáng nguy hại là TDB về đạo đức, lối sống diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trong đó có cả những người có chức, có quyền, nhằm du nhập văn hóa, đạo đức lối sống tư sản trong đời sống của xã hội ta. Đồng chí Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương) cho rằng, việc suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã diễn ra trong một thời gian dài và trên phạm vi rộng, với tính chất và mức độ rất nghiêm trọng.

Trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, PGS, TS. Nguyễn Hồng Vinh (Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật Trung ương) cho rằng, TDB, TCH trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật về bản chất, là một quá trình suy thoái từ bên trong của một số văn nghệ sĩ thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống.

“Tự diễn biến” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại là sự phủ nhận của một số người đối với sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thống nhất của Đảng đối với lực lượng vũ trang, mong muốn “phi chính trị hóa quân đội”, phủ nhận, xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân của Đảng, tuyệt đối hóa nhiệm vụ phát triển kinh tế, coi nhẹ, buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đề cao thuyết vũ khí luận trong điều kiện mới, coi nhẹ yếu tố chính trị tinh thần, gây chia rẽ mất đoàn kết giữa Đảng với quân đội, quân đội với nhân dân và công an, đối lập tổ chức đảng với tổ chức chỉ huy, chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, cổ xúy cho những hành động “yêu nước” theo kiểu manh động, như xuống đường biểu tình, tập trung tụ tập đông người gây mất trật tự trị an xã hội. Theo Đại tá, ThS. Đặng Văn Hường (Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị), với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội các thế lực thù địch đưa ra luận thuyết: “Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào và chủ quyền quốc gia”; phải là “lực lượng trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”, chỉ là “công cụ của quốc gia, dân tộc”(!)... nhằm phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang nhân dân, hướng tới làm tê liệt ý chí chiến đấu của Quân đội ta.

Đồng chí Nguyễn Phương Nga, đồng chí Trương Mạnh Sơn (Bí thư Đảng ủy Ngoài nước) nhấn mạnh, trong lĩnh vực đối ngoại, các thế lực thù địch cố tình thông tin sai lệch và xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ giữa ta với các đối tác quan trọng nhằm gieo rắc sự hoài nghi, hiểu lầm, bức xúc của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta; xuyên tạc các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…

Một số giải pháp chủ yếu phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

PGS, TS. Vũ Văn Phúc (Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản) nhấn mạnh: Việc phòng, chống TDB, TCH trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một trong những vấn đề cấp bách, nhưng cũng là rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi giải quyết phải rất khoa học, rất công phu và phải rất tinh tế và hiệu quả, để tránh những hậu quả không đáng có trong tình hình hiện nay.

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống TDB, TCH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, phòng, chống TDB, TCH trong nội bộ giữ vai trò quyết định; cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh (QP-AN) và đối ngoại.

Trước hết, trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, Thượng tướng, Viện sĩ, TS. Nguyễn Huy Hiệu (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Thiếu tướng Bùi Văn Tâm (Phó Chính ủy Học viện Quốc phòng), Thiếu tướng Phan Tiến Hạc (Phó Cục trưởng Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị) cho rằng, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng.

GS, TS. Trần Đại Quang khẳng định, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, TDB, TCH là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây không phải là mặt trận có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà phải sử dụng tư tưởng, lý luận cách mạng đánh bại tư tưởng, lý luận phản động; sử dụng chính nghĩa và sự thật đánh bại sự xuyên tạc, vu cáo; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... PGS, TS. Bùi Trung Thành, TS. Cao Đức Thái, TS. Nguyễn Đức Độ, PGS, TS. Nguyễn Bá Dương, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, TS. Trần Hồng Hà (Phó Bí thư Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương) đều cho rằng, cần tập trung thực hiện một số giải pháp: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lý luận, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khắc phục những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội; tích cực tạo bước chuyển biến mới trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tập trung giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực, chủ động giữ vững ổn định bên trong với phòng ngừa, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ phía chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ở bên ngoài bằng nhiều hình thức, quy mô, lực lượng trên tất cả các lĩnh vực...; tăng cường các biện pháp nắm bắt tình hình địch, tình hình ta ở cơ sở, nhất là những địa phương có “điểm nóng”; kịp thời phát hiện các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của bọn phản động, sự móc nối của chúng với các phần tử bất mãn với chế độ ta ở trong và ngoài nước... Nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đổi mới và tăng cường công tác cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Để phòng, chống tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, PGS, TS. Vũ Văn Phúc; TS. Phạm Đình Đảng (Tạp chí Cộng sản); ThS. Lại Xuân Lâm (Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương); Đại tá, TS. Nguyễn Văn Hữu (Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng) đưa ra các nhóm giải pháp trong công tác xây dựng Đảng; quản lý nhà nước; hạn chế tiêu cực từ bên ngoài và phát huy vai trò của tổ chức đảng các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội trong phòng, chống TDB, TCH. GS, TS. Lê Hữu Nghĩa, PGS, NCVCC Trần Đình Huỳnh, PGS, TS. Nguyễn Văn Thắng, Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng (Viện trưởng Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng), TS. Phạm Văn Khánh (Báo Nhân Dân), Nguyễn Phi Long (Phó Vụ trưởng Vụ Đảng viên, Ban Tổ chức Trung ương) cho rằng, phải gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp đấu tranh, “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, tạo ra sức tự đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, giữa trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các binh chủng trên mặt trận tư tưởng trong cuộc đấu tranh chống hoạt động “diễn biến hòa bình”.

PGS, TS. Nguyễn Thế Thắng, đồng chí Nguyễn Đức Hà đề cao giải pháp đổi mới công tác cán bộ, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI; đấu tranh chống tham nhũng; bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. ThS. Lê Hải (Tạp chí Cộng sản) khẳng định, để có thể chiến thắng được chính mình trong cuộc đấu tranh tư duy giữa “trắng” và “đen”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải được chuẩn bị hành trang về nhận thức chính trị, bản lĩnh chính trị và phương pháp luận khoa học, từ đó nâng cao khả năng “tự miễn dịch” từ bên trong. GS, TS. Phạm Ngọc Hiền cho rằng, việc tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa hết sức quan trọng và có thể xem là một trong những giải pháp cơ bản phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, TDB, TCH.

Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Thiếu tướng Lê Đình Luyện (Cục trưởng A88, Bộ Công an), TS. Lê Minh Phụng (Tạp chí Cộng sản) cho rằng, công tác đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống nhất của các cấp ủy, sự điều hành của chính quyền các cấp.

Trong lĩnh vực kinh tế, đồng chí Nguyễn Đình Phách (Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng) nhấn mạnh, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tăng cường xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững; có khả năng cạnh tranh cao để chủ động hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Cần tiếp tục đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng. Phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với thủ đoạn lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt là, cán bộ chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa cá nhân” chi phối.

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, cần quyết tâm bảo vệ đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội của Đảng, chủ trương và chính sách văn hóa - xã hội của Nhà nước; bảo vệ, xây dựng và phát triển hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới trên nền tinh hoa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Chống lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây. Nhà báo Trần Quang Hà cho rằng, phòng và chống TDB, TCH trong văn học - nghệ thuật trước hết là cần tạo dựng niềm tin, ý chí, sự kiên định với con đường đã lựa chọn,... trong mỗi chủ thể sáng tạo.

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại, Trung tướng, TS. Võ Tiến Trung (Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng) nhấn mạnh, để nâng cao hiệu quả phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội; vạch trần và chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm quân đội ta “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Thiếu tướng Nguyễn Xuân Nghi (Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị); Đại tá, PGS, TS. Nguyễn Xuân Thành (Học viện Quốc phòng) cho rằng, phòng chống TDB, TCH trong cán bộ, đảng viên quân đội là vấn đề vừa cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài cần phải được coi trọng và tổ chức thực hiện bằng hệ thống giải pháp đồng bộ cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức...

Các tham luận đều khẳng định, cần giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc là cơ sở để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài. Theo đồng chí Nguyễn Đình Phách; ThS. Đỗ Minh Hạnh (Tạp chí Cộng sản); ThS. Nguyễn Tùng Lâm (Bộ Quốc phòng), cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí phải được tăng cường, kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan của Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Mai Thế Dương (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương), Trung tướng Vũ Hải Triều (nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II), Trung tướng Võ Trọng Việt (Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Đại tá, TS. Vũ Minh Thực (Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) khẳng định, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát là một trong những giải pháp quan trọng để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và cán bộ, đảng viên; góp phần kịp thời phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới nhen nhóm, phát sinh với phương châm “chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, tự bảo vệ mình là chính”; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống TDB, TCH với tinh thần tích cực tấn công làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trước mắt, tập trung giải quyết tốt ba vấn đề mang tính cấp bách về công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI./.

Nhận diện và phòng, chống nguy cơ " tự diễn biến", " tự chuyển hóa" trong nội bộ

1.Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không phải bây giờ, cũng không phải chỉ có ở Việt
Nam mà có từ trong Phong trào Cộng sản quốc tế và ở các nước Xã hội chủ nghĩa khác.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị cũng như trong xã hội ở các nước Xã hội chủ nghĩa thường xuất hiện khi mà tình hình thế giới diễn biến phức tạp, tình hình trong nước có nhiều khó khăn, thách thức. Nói cách khác khi mà cách mạng thế giới, cách mạng trong nước có những “khúc quanh lịch sử” thì trong nội bộ Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội sẽ xuất hiện những đối tượng cơ hội chính trị và nảy sinh vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa cơ hội, đối tượng cơ hội chính trị đã xuất hiện trong Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế theo khuynh hướng tư tưởng đối lập nhau như: Phái Latxan, phái Công Liên, phái Blongxki, phái Bruđông, phái Bacunin… Những phần tử thuộc các trường phái đó không những không đi theo, không ủng hộ mà còn công khai, quyết liệt chống lại Học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là những người cộng sản đã bị biến chất, thoái hóa về tư tưởng chính trị, họ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và trở thành những “con chiên ngoan đạo” của “Chủ nghĩa cơ hội tả khuynh” hay “Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh”.
Vào đầu những năm 60, 70 của thế kỷ XX, ở Liên Xô xuất hiện “Chủ nghĩa xét lại hiện đại”, một trào lưu tư tưởng - chính trị đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại”, đứng đầu là Khơ-rut-sốp (nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô), đã phê phán đòi “xem lại”, “xét lại” Học thuyết Mác-Lênin.
Trong thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện những cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sỹ, phóng viên báo chí, triết gia, sỹ quan quân đội…; trong đó có những người là cán bộ trung, cao cấp theo “Chủ
nghĩa xét lại”. Sau đó, ở nước ta cũng đã xuất hiện những cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đi theo “Chủ nghĩa bành trướng, bá quyền, sô-vanh nước lớn” chống lại Đảng, Nhà nước ta.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, khi Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, hệ thống Xã hội chủ nghĩa tan rã, ở nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị. Thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã sa vào “vũng bùn”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
2.Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Diễn biến là biến đổi theo chiều hướng nào đó”; “chuyển hóa là biến đổi từ dạng này, hình thái này sang dạng khác, hình thái khác”(1). Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ góc độ chính trị của Việt Nam cho thấy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nói tới sự suy thoái, thay đổi quan điểm, lập trường tư tưởng - chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hay trong một tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội thuộc hệ thống chính trị của chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường do những nguyên nhân: sự tác động từ hoạt động tuyên truyền thù địch, sự tác động tiêu cực của diễn biến tình hình thế giới (như sự sụp đổ của chế độ Nhà nước Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, hay từ các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng mùa xuân Ả Rập”…) và sự tác động bởi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng, phân hóa giàu nghèo gia tăng dẫn tới sự bất mãn, bất bình trong xã hội. Song, trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên lập trường tư tưởng - chính trị không vững vàng, do bất mãn hay do sự buông lỏng công tác quản lý, giáo dục của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, Đoàn thể xã hội…
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trên nhiều mặt như: nhận thức lệch lạc về tư tưởng, chính trị; sự sa đọa về đạo đức, lối sống… Các biểu hiện suy thoái trên có quan hệ tương tác với nhau; từ sự suy thoái về tư tưởng - chính trị có thể dẫn tới sự tha hóa về đạo đức, phẩm chất lối sống và ngược lại, tha hóa về đạo đức, lối sống có thể dẫn đến sự thoái hóa về tư tưởng - chính trị.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra trong nội bộ Đảng, chính quyền Nhà nước và trong xã hội. Nguy hiểm nhất là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ lãnh đạo Đảng và chính quyền Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới cuộc chính biến ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây bắt nguồn từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô cũng như Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở một số nước Đông Âu.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể nảy sinh ở những cán bộ, đảng viên, quần chúng đến những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các cấp. Đáng chú ý hơn là những cán bộ cấp cao, cán bộ có nhiệm vụ hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đặc biệt nguy hiểm là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những cán bộ cấp cao giữ vai trò “cầm lái con thuyền đất nước”. Sự tan rã của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết gắn liền với tên tuổi của Gorbachev (nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng thống Liên Xô), hay Enxin (nguyên Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bí thư Thành ủy Moskva) và một số Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đứng đầu cơ quan Đảng Cộng sản, chính quyền ở các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô hoặc giữ chức Bộ trưởng, Thứ trưởng trong Chính phủ Liên Xô. Có thể nói, đó là những đảng viên Cộng sản cấp cao “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và trở thành kẻ phản bội lại Đảng Cộng sản Liên Xô, chế độ Xô viết và Phong trào Cộng sản trên toàn thế giới.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải là “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” là Chiến lược của Chủ nghĩa đế quốc nhằm xóa bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa, tác động chuyển hóa các nước xã hội chủ nghĩa đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù không phải là một, song “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại với “diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy cái gọi là “cách mạng màu” ở trong các nước xã hội chủ nghĩa cũng như các nước đối lập, đối đầu với Mỹ và đồng minh.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, hành động chống đối về chính trị của một cá nhân hay một tổ chức. Phản bác, phủ định Chủ nghĩa xã hội có thể dẫn tới có âm mưu, hoạt động chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa dưới hình thức này hay hình thức khác. Ca ngợi chủ nghĩa tư bản rồi cũng đến lúc tin theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là vấn đề có tính quy luật. Do vậy, cần phải hết sức cảnh giác và không thể coi thường, hơn thế nữa phải thấy được tính chất nguy hại của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
3.“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một quá trình và thường biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
- Nói và làm không theo và thậm chí ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
- Thể hiện thái độ hoang mang, dao động, đồng tình với quan điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và hơn thế nữa đòi thực hiện chế độ đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Phản bác, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn;
- Phủ nhận mọi thành tựu mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được trong cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay;
- Xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả kích, bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thậm chí cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và của phong trào Cộng sản, công nhân và nhân dân lao động trên thế giới;
- Truyền bá học thuyết, văn hóa, lối sống tư sản cũng như các quan điểm tư tưởng phi mác-xít, phi xã hội chủ nghĩa, đối lập thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Phá hoại nội bộ cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ qua các hành vi gây bè phái, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ, kích động tư tưởng bất mãn, bất bình, chống đối trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể xã hội thuộc hệ thống chính trị của chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Móc nối, câu kết, phối hợp với các thế lực thù địch bên ngoài và các phần tử chống đối ở trong nội bộ và ngoài xã hội chống lại Đảng, chính quyền Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Bảo vệ quan điểm, tư tưởng, hành động sai trái của các phần tử chống đối ở trong nội bộ và ngoài xã hội nước ta. Thậm chí ca ngợi chúng như những nhân vật “anh hùng” đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”… Nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người hay trong một tổ chức không đơn giản chỉ là căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh bản chất bên trong. Thực tế có những trường hợp vì bức xúc, bất bình về vấn đề gì đó mà nhất thời có những lời nói, hành động thể hiện thái độ bất mãn thì cũng không nên vội vã cho là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà cần làm rõ nguyên nhân, bản chất sự việc, hiện tượng.
Việc đánh giá, kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan, phải trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu hành vi có
liên quan diễn ra trong một quá trình, trong đó mấu chốt của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường tư tưởng - chính trị theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa xã hội.
4.“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ hàng đầu đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, với chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là yêu cầu vừa là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay.
Nghị quyết Trung ương 4 số 12-NQ/TW (khóa XI) ngày 16-01-2012 ghi rõ: “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”(2).
Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng về phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần phải tiến hành đồng bộ các công tác cơ bản và cấp bách sau đây:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, văn hóa, đạo đức, lối sống nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, quyết tâm đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Trước hết, cần làm cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thấy được: (1) Tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành; (2) Phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta. Trong cuộc đấu tranh này, không chỉ là phê bình và tự phê bình mà bằng nhiều hình thức, biện pháp từ biện pháp tổ chức cho tới biện pháp pháp luật; (3) Sự quyết tâm, ý thức trách nhiệm, dám nói, dám làm vì động cơ, mục đích rõ ràng, trong sáng, vì chế độ xã hội chủ nghĩa, vì nhân dân; (4) Thực hiện nghiêm túc “Quy định về những điều đảng viên không được làm” (Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Đảng).
Hai là, tập trung vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI). Trước hết là xây dựng Đảng cả về tư tưởng - chính trị và tổ chức cán bộ. Thực hiện phương
châm “chống và xây”, “xây và chống”, “nói đi đôi với làm”.
Trong công tác xây dựng Đảng, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản về tổ chức và sinh hoạt Đảng. Thực hiện dân chủ rộng rãi đi đôi với coi trọng kỷ cương, kỷ luật, đấu tranh phê bình và tự phê bình trong Đảng. Kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bản vị, “địa phương chủ nghĩa” trong công tác cán bộ.
Cần tuyển chọn những cán bộ, đảng viên có đủ tiêu chuẩn về sức khỏe, chuyên môn, lập trường tư tưởng - chính trị vững vàng, đạo đức, phẩm chất tốt vào bộ máy Đảng, chính quyền Nhà nước từ Trung ương tới địa phương. Kiên quyết thanh lọc những cán bộ, đảng viên không có đức, không có tài, thấy sai không dám đấu tranh, thấy đúng không dám bảo vệ và thậm chí còn vi phạm kỷ luật… ra khỏi cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước các cấp. Trước hết, cần coi trọng những cán bộ, đảng viên có đức, coi trọng “đức trị”; có tài mà không có đức thì không nên bố trí vào vị trí lãnh đạo dù bất cứ ở cấp nào.
Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, cốt lõi là công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở. Cụ thể là: bảo vệ cơ sở tư tưởng - chính trị (Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), bảo vệ chủ trương, đường lối, quan điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng; tăng cường vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường “sức đề kháng” nhằm vô hiệu hóa mọi âm
mưu, hoạt động phá hoại tư tưởng, thâm nhập, chuyển hóa, lũng đoạn nội bộ, tha hóa cán bộ Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch và đối tượng khác. Bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành bằng nhiều biện pháp công tác, song quan trọng nhất là giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao khả năng “miễn dịch” của mỗi cán bộ, đảng viên trước sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài và bên trong. Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Bốn là, tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra và kỷ luật của Đảng. Thông qua công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra nhằm sớm phát hiện và kịp thời ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành có kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm.
Năm là, duy trì thường xuyên Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07-01-2006 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng và có thể xem là một trong những giải pháp cơ bản phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, nó cần phải được tiến hành một cách nghiêm túc, thiết thực, tránh phô trương, hình thức, mất thì giờ, tốn kém công sức, tiền của của nhân dân, học phải đi đôi với hành, nói phải đi đôi với làm như Bác Hồ đã dạy.
Sáu là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, đánh giá đúng tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những nội dung sau: (1) Những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống cũng như có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; (2) Suy thoái, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong các ngành, các cấp, các địa phương tới mức độ nào; (3) Nguyên nhân, điều kiện dẫn tới sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong ngành mình, địa phương mình và có thể cả ở tổ chức, đơn vị mình.
Trên cơ sở đó đề ra và tiến hành các giải pháp, áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vị. Nhận diện và phòng, chống suy thoái và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một vấn đề hết sức cấp bách.
Có thể nói, đây là một cuộc đấu tranh vì sự tồn vong của Đảng, của chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt, tinh thần thái độ kiên quyết, không khoan nhượng thì mới có
thể đạt được kết quả như mong muốn.
(1) Nguyễn Như Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, H. 1998, tr.407-538.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI), Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011.
Thiếu tướng, GS, TS. Phạm Ngọc Hiền
(Nguyên Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân)

Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

NGUYỄN LƯƠNG HẢI KHÔI
tuanvietnam.net – 07/02/2010 07:30 GMT+7
Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.
LTS: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.
Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.
Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.
Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.
Trung Quốc không phải là “thiên triều”
Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin “thiên triều” phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: “Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn”.
Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và… chấp nhận vĩnh viễn.
Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn “nộp cống xưng thần” là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức “tướng quân”, dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.
Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.
Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.
Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một “khuôn mẫu đỉnh cao”, do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.
Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.
Trung Quốc không phải là khuôn mẫu
Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.
Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và “đặt chình ình” vào giữa cơ thể dân tộc.
Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là… không khác Trung Quốc.
Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài “chiếc hộp Trung Quốc”. Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết… Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.
Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ “Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư”. Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang… ở nhà.
Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.
Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, “Cổ sự ký”, họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc… không đọc được.
Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.
Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, “chữ thánh hiền” là chữ Trung Quốc, “người thánh hiền” là
người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.
Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.
Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy
Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được “thánh hiền Trung Quốc” nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.
Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.
Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách “vô lễ” như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách “Sentetsu Sodan” (“Tiên triết tùng đàm”) của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: “Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?”. Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải… chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.
Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải “đặt vấn đề” về mặt văn hóa với Trung Quốc.
Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.
Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.
Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái “triết thuyết mới” ấy hay không là chuyện khác.
Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.
Các học phái “Kokugaku”, “Rangaku”, “Mito”… đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết “thiên mệnh”, những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người…
Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.
Lời cuối cho một khởi đầu
Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là “khuôn mẫu đỉnh cao”.
Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.
Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.
Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. “Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây” – đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.
Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi “Phương Tây” là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như… Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.
Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.
Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.
Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh “gục bên súng mũ bỏ quên đời”.