Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Mục đích thực của thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội

“Phi chính trị hóa” quân đội là một thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Mục đích thực của thủ đoạn đó là nhằm vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của xã hội có giai cấp, bất kỳ quốc gia nào, dù thời chiến hay thời bình đều tổ chức ra quân đội nhằm bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bàn về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khẳng định: Về bản chất, quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, sử dụng; quân đội được xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị của giai cấp tổ chức ra nó. Điều đó có nghĩa là, không có quân đội “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “phi đảng phái” như một số kẻ vẫn rêu rao.
Thực tế lịch sử luôn khẳng định, quân đội của các nước tư bản được tổ chức ra để phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Có người cho rằng, quân đội tư sản không chịu sự lãnh đạo của bất cứ một đảng phái, giai cấp nào; nó chỉ là tổ chức trung lập trước mọi biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của các chính đảng. Sự thật không phải như vậy! Ở các nước đó, các đảng thay nhau cầm quyền đều là đại diện cho các thế lực tư bản giàu có. Đảng nào nắm quyền điều hành xã hội, cũng đều có trách nhiệm xây dựng, nuôi dưỡng, huấn luyện, trang bị và sử dụng quân đội phục vụ chủ yếu cho lợi ích của giai cấp tư sản. Mới đây, ở nước Mỹ, khi hai đảng Cộng hòa và Dân chủ chưa thống nhất với nhau về chi tiêu ngân sách, kinh phí hoạt động của chính quyền liên bang cạn kiệt, hầu hết các cơ quan của Chính phủ phải đóng cửa, ngừng làm việc, nhưng Quân đội Mỹ vẫn được ưu tiên hoạt động bình thường. Điều đó đã minh chứng: tính giai cấp luôn là yếu tố khách quan, vốn có của quân đội và một khi tự tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền, thì quân đội sẽ mất phương hướng chiến đấu và bị vô hiệu hóa. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh vào những năm 90 của thế kỷ XX, do Quân đội Liên Xô rơi vào cái “bẫy” “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch, đã tự rời xa nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị, xóa bỏ cơ chế Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội, nên không còn là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén, tin cậy của Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô nữa. Đây là một trong những nguyên nhân rất quan trọng làm cho Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết tan rã, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ.
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, giáo dục và rèn luyện đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho QĐND Việt Nam không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, mà còn mang đầy đủ tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; luôn được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành gần 70 năm qua đã chứng minh, từ khi được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; thực sự là quân đội của dân, do dân và vì dân. Bởi vậy, QĐND Việt Nam luôn có sức mạnh vô địch, góp phần cùng toàn dân làm nên chiến thắng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Yêu cầu mới của tình hình hiện nay đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Quân đội được xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội đã được Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013) khẳng định. Theo đó, lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCSVN; phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh Quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, chế độ XHCN, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch. Đi ngược lại nguyên tắc đó, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng sẽ làm cho QĐND Việt Nam biến chất về chính trị, xa rời hệ tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tạo khoảng trống về ý thức hệ, tiến tới bị vô hiệu hóa.
Nắm được điều cốt tử đó, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”; ra sức thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” QĐND Việt Nam. Thực chất mục đích của chúng là nhằm tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; đối lập Quân đội với Đảng, với nhân dân; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, làm mất phương hướng chính trị của Quân đội. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực thù địch đã tìm ra trăm phương, ngàn kế để hạ thấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; tập trung xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐND Việt Nam. Chúng đưa ra những luận điệu, như: Quân đội “chỉ là công cụ của quốc gia, dân tộc”, “không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”,… Gần đây, lợi dụng việc đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 , một số người đã hô hào: “Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ, không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”, “Quân đội trung lập, Quân đội đứng ngoài chính trị”,… Từ đó, họ cho rằng, Đảng ta đã “cố tình đánh tráo khái niệm”, “đi ngược lại quy luật”; đồng thời, yêu cầu “bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với ĐCSVN”,… Suy cho cùng, mọi luận điệu mà họ tung ra chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, mất sức chiến đấu, không còn là Quân đội của dân, do dân và vì dân. Một khi Đảng không nắm được Quân đội, tất yếu Quân đội sẽ mất phương hướng xây dựng; cán bộ, chiến sĩ sẽ không còn mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; sức mạnh tổng hợp sẽ bị phân rã. Đó là thời cơ để các lực lượng chính trị phản động “đục nước béo cò”, đẩy đất nước lâm vào tình trạng rối ren, mất ổn định, chệch hướng đi lên CNXH.
Có thể khẳng định rằng, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội chỉ là một chiêu bài của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam mà chúng đã ấp ủ lâu nay. Tuy không mới, song trong bối cảnh hiện nay, nhất là trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên…, những luận điệu của các thế lực thù địch đưa ra là rất thâm độc, xảo quyệt, dễ làm cho những người thiếu hiểu biết, kém bản lĩnh nhận nhầm chân giá trị. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức đúng tính tất yếu của việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới và thấy rõ bản chất, mục đích thực của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, để có phương thức đấu tranh hiệu quả. Mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải thấy rõ, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, QĐND Việt Nam đều phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCSVN. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm để Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Quân đội phải là chỗ dựa tinh thần của chế độ XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân; không dao động trước sự tiến công hiểm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Trước sự tuyên truyền, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận và văn hóa, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn chủ động, nhạy bén, sắc sảo và tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội; tỉnh táo, kịp thời xử lý các tình huống phức tạp diễn ra trong hoạt động thực tiễn theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không để kẻ địch lợi dụng để thực hiện mưu đồ của chúng.
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, vấn đề then chốt là phải xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Các đơn vị phải quán triệt và thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” gắn với quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, không để xảy ra đột biến. Trước mắt, phải coi trọng việc khắc phục có hiệu quả những khuyết điểm sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI). Đồng thời, phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”, bảo đảm để cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội vận hành ngày càng thông suốt, có hiệu quả cao. Các tổ chức đảng trong Quân đội phải tích cực đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với những biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, giáo điều, cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, làm ảnh hưởng đến phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Phải quán triệt và thực hiện nghiêm Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, góp phần thiết thực tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Quân đội với nhân dân.
Những việc làm trên đây chính là biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, hòng hạ thấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Mọi mưu đồ đòi vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội cần phải kiên quyết lên án, bác bỏ.
TRÁNG A LÂM

Hiến pháp năm 2013 – kết tinh ý Đảng, lòng Dân, không thế lực nào có thể xuyên tạc

Ý Đảng hợp lòng Dân tạo nên sự đồng thuận xã hội - nguồn gốc sức mạnh và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, không thế lực nào ngăn cản nổi. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) đã thể hiện rõ điều đó.
Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Nghị quyết của Quốc hội quy định một số điểm thi hành Hiến pháp
(Nguồn: moj.gov.vn)
“Ý Đảng, lòng Dân” đã trở thành câu nói quen thuộc như một thành ngữ thời hiện đại ở nước ta, thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản với nhân dân Việt Nam. Ý Đảng là chỉ quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng. Lòng dân là chỉ tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Khi ý Đảng, lòng Dân hòa quyện vào nhau tạo thành sức mạnh vô địch vượt qua mọi chướng ngại trên con đường tới tương lai của đất nước.
Dự thảo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã được thông qua ngày 28-11-2013 tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII và được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký lệnh công bố ngày 08-12-2013. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, không chỉ thể hiện ý Đảng hợp lòng Dân mà còn là sự kết tinh cao độ của ý Đảng và lòng Dân.
Trong khi toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân ta hân hoan mở “Hội non sông” chào đón và quyết tâm đưa Hiến pháp mới vào cuộc sống (Hiến pháp có hiệu lực từ ngày 01-01-2014) thì các thế lực thù địch không ngừng tung ra các luận điệu sai trái hòng làm lung lay ý chí, suy giảm niềm tin của nhân dân ta vào bản Hiến pháp mới.
Mọi người đều biết, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam, xóa bỏ những thành quả của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu nhất quán của các thế lực thù địch. Họ đã theo đuổi mục tiêu đó bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực chiến tranh, vẫn chưa thực hiện được, nay hy vọng làm cuộc “đảo chính” bằng thay đổi Hiến pháp, thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”!
Lợi dụng cơ hội toàn dân tham gia thảo luận, góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 diễn ra sôi nổi từ đầu năm đến nay, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, một số người ngộ nhận đã đưa ra các đòi hỏi phi lý “phải có một bản Hiến pháp hoàn toàn mớí”, “phải thay đổi toàn bộ những điều cơ bản, then chốt nhất của Hiến pháp 1992”. Trong đó, cốt lõi là bỏ Điều 4 xác nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đòi thay đổi tên nước “Cộng hòa XHCN Việt Nam”, bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và tôn trọng sở hữu tư nhân về đất đai, v.v.
Cũng thật dễ hiểu, một khi yêu cầu đó không thực hiện được qua bản Hiến pháp mới, họ lu loa phủ nhận Hiến pháp mới, rằng: “gây thất vọng to lớn”, vì “không có gì mới”, “thậm chí là sự thụt lùi so với Hiến pháp cũ”; “các ý kiến cho các vấn đề then chốt, căn bản đã không được xem xét, bàn thảo nghiêm túc cho sửa đổi thực sự”; Hiến pháp mới “là sự áp đặt trắng trợn”; v.v và v.v.
Cần phải khẳng định ngay rằng, đó hoàn toàn là những lời lẽ xuyên tạc trắng trợn. Sự thật luôn là sự thật. Bất cứ thủ đoạn nào, dù thâm hiểm đến đâu cũng không thể thay đổi được sự thật. Sự thật ở đây là Đảng Cộng sản Việt Nam không làm sẵn Hiến pháp rồi áp đặt cho Nhân dân phải thực hiện. Đảng chỉ lãnh đạo, chỉ đạo về quan điểm, chủ trương soạn thảo ra Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 rồi đưa ra để toàn Dân tham gia ý kiến. Hơn thế, Đảng, Nhà nước còn kêu gọi, tạo mọi điều kiện để tất cả người dân cả trong và ngoài nước phát huy quyền dân chủ, trách nhiệm, trí tuệ của mình xây dựng Hiến pháp mới hiệu quả nhất.
Thật hiếm có một đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý diễn ra dân chủ, sâu rộng, sôi nổi đến như vậy! Cả hệ thống chính trị đã “vào cuộc” với sự đồng thuận cao để hoàn thiện bản Hiến pháp mới - Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013).
Khởi động từ tháng 8-2011, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được chuẩn bị công phu, tâm huyết, khoa học của các nhân sĩ, trí thức, chuyên gia lập pháp, với hàng chục cuộc hội thảo, hội nghị khoa học. Đến tháng 01-2013, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi được công bố rộng rãi để lấy ý kiến của toàn Dân. Theo thống kê đợt cao điểm góp ý vào Dự thảo Hiến pháp, ba tháng đầu năm 2013 đã có hơn 20 triệu lượt ý kiến. Tiếp đó, Quốc hội đã quyết định kéo dài thời gian lấy ý kiến để tiếp nhận được hết ý Dân. Quá trình thảo luận ở Quốc hội được diễn ra công khai, dân chủ. Mọi phiên họp thảo luận về Hiến pháp ở Quốc hội đều được truyền hình trực tiếp cho toàn Dân xem. Ngay thời điểm lấy ý kiến Nhân dân, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Phan Trung Lý, Trưởng Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã khẳng định, mọi ý kiến sẽ được tiếp thu, không có gì cấm kỵ, kể cả Điều 4. Sau gần 11 tháng, Ban soạn thảo Dự thảo Hiến pháp đã nhận được hơn 26 triệu lượt ý kiến, tập hợp trong hàng nghìn trang giấy đóng góp, bổ sung của mọi tầng lớp Nhân dân, nhân sĩ, trí thức ở trong và ngoài nước. Với tinh thần lắng nghe, thấu hiểu, tiếp thu, chắt lọc tinh hoa, trí tuệ từ ý kiến đóng góp của Nhân dân; các cơ quan có trách nhiệm và các đại biểu Quốc hội đã làm việc tận tụy, tâm huyết để cuối cùng có bản Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013) thể chế hóa “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)” của Đảng, được Quốc hội thông qua với sự đồng thuận rất cao (97,59%). Đó thực sự là một công trình khoa học, một văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng bậc nhất, kết tinh cao độ ý Đảng, lòng Dân.
Điều đó không có nghĩa là tất cả 26 triệu lượt ý kiến của người dân đều được đưa vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tuy nhiên, như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã thẳng thắn phát biểu sáng 28-11: “Dự thảo đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của đại đa số Nhân dân, đại biểu Quốc hội. Đó là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần làm chủ của Nhân dân. Trong một số bộ phận, một số người và ngay cả một số đại biểu Quốc hội vẫn còn có những ý kiến khác về một số điều, khoản trong Dự thảo. Những ý kiến còn khác so với Dự thảo sẽ được Quốc hội hết sức trân trọng, tiếp thu để tiếp tục nghiên cứu trong quá trình đổi mới đất nước”.
Đó là thái độ hết sức đúng đắn, cầu thị. Nếu căn cứ vào một số ý kiến của một số người không được thể hiện trong Hiến pháp mới để nói rằng Hiến pháp mới “là sự áp đặt trắng trợn” thì đó chỉ là sự xuyên tạc, vu cáo “thô thiển”.
Luận điệu cho rằng: Hiến pháp 2013 “không có gì mới”, “thậm chí thụt lùi” so với Hiến pháp cũ là cách nói hàm hồ, bất chấp sự thật. Hiến pháp 2013 kế thừa, phát huy giá trị của các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và có những bước phát triển. Nội dung, hình thức, kết cấu, đến kỹ thuật lập hiến của bản Hiến pháp mới đều có những điểm mới, rất tiến bộ, mang tính ổn định, lâu dài và hội nhập quốc tế ở mức độ cao.
Hiến pháp 1992 có 12 chương, 147 điều. Hiến pháp mới có 11 chương, 120 điều nhưng cô đọng, súc tích, chứa đựng nhiều điểm mới trong tất cả các chương và hầu hết các điều. Chỉ xin nêu khái quát mấy điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, Hiến pháp mới khẳng định và làm rõ vai trò chủ thể, chủ quyền của Nhân dân và bản chất Nhà nước: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân,...” (khoản 1 và 2, Điều 2). Hiến pháp mới bổ sung thêm một nguyên tắc mới về tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta. Quyền lực nhà nước là thống nhất, không chỉ được phân công, phối hợp mà còn có sự kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là nguyên tắc mới được bổ sung trong Cương lĩnh của Đảng ta và Hiến pháp sửa đổi lần này đã thể chế hóa, làm cơ sở Hiến định để các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm và thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được nhân dân giao; hạn chế và ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, đây còn là cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm phòng, chống sự tha hóa quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân.
Hiến pháp mới cũng đã bổ sung đầy đủ các hình thức Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước, không chỉ bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác, mà còn bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, bằng quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý Dân; trong đó, có trưng cầu ý Dân về Hiến pháp.
Chương “Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân” trong Hiến pháp 1992, nay thành chương “Chính quyền địa phương” để phản ánh thực chất hơn tổ chức quyền lực ở nước ta, bổ sung chương quan trọng về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước. Về mặt kỹ thuật, những điểm mới đó thể hiện rõ mong muốn tạo ra bước phát triển trong quá trình đổi mới bộ máy nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị phù hợp và tương đồng với đổi mới kinh tế.
Thứ hai, vấn đề về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được chú trọng, bổ sung nhiều điểm mới, đầy đủ hơn. Trước đây, chương V, Hiến pháp 1992 chỉ nói về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp mới dành cả Chương II với 36 điều (các chương khác chỉ có trên dưới 10 điều) đã thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Chương II đặt ngay sau chương I “Chế độ chính trị” chứng tỏ Nhà nước ta hết sức chú trọng quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân, cam kết bảo đảm, bảo vệ, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền con người mà nước ta đã tham gia.
Chính vì người dân thấy “ý Đảng hợp lòng Dân” trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, thấy hiện diện rõ nét bản thân mình, chủ quyền của mình nên đã hưởng ứng tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và đồng thuận cao như vậy.
Thứ ba, Hiến pháp tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng có những điểm mới làm sâu sắc hơn bản chất tiên phong và trách nhiệm của Đảng, vai trò của Nhân dân đối với Đảng. Hiến pháp mới đã làm rõ bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng tiên phong không chỉ của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc. Lần đầu tiên Hiến pháp thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong vai trò đảng cầm quyền: Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về sự lãnh đạo và những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Quy định này đã nâng cao hơn sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của đảng viên, tổ chức đảng trong lãnh đạo theo đúng Điều lệ Đảng và Hiến pháp. Nó cũng trực tiếp phản bác những luận điệu xuyên tạc rằng: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là “đảng trị”, “độc tài”, “đảng đứng trên pháp luật, đứng trên nhân dân”, v.v.
Còn rất nhiều điểm mới, nét mới, nội dung mới trong các chương, các điều của Hiến pháp 2013, tất cả đều cho thấy luận điệu Hiến pháp mới “không có gì mới”, “thậm chí thụt lùi” là hoàn toàn xuyên tạc sự thật với ý đồ xấu.
Chúng ta không “vơ đũa cả nắm”, coi tất cả những người còn chưa đồng thuận với bản Hiến pháp mới đều thuộc “các thế lực thù địch”. Có thể số người này không thấy hết được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 30 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Có thể họ quá bức xúc, thiếu bình tĩnh trước tình trạng suy thoái của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên, tình trạng yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước, mặt tiêu cực của xã hội nên muốn hiến kế và tìm con đường khác để đất nước phát triển hơn (!?). Dù vậy, thì đó cũng chỉ là sự ngộ nhận. Đảng ta, Nhân dân ta, những nhân sĩ, trí thức, tinh hoa, trí tuệ của đất nước ta hiện nay không phải không biết rằng trên thế giới ngày nay còn có nhiều con đường xây dựng và phát triển đất nước, kể cả con đường “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” theo mô hình TBCN. Chọn con đường nào là quyền tự quyết của nhân dân mỗi nước. Nhân dân ta đã và đang lựa chọn con đường xây dựng, phát triển đất nước theo Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là con đường duy nhất đúng cho đến nay ở nước ta và nó đã được minh chứng bằng những thành tựu trong công cuộc đổi mới. Những bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở Thái Lan, U-crai-na và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi khiến chúng ta càng vững tin vào con đường xây dựng, phát triển đất nước theo Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể chế hóa trong bản Hiến pháp mới.
Hiến pháp là đạo luật gốc, là nền tảng chính trị - xã hội của đất nước, một khi Hiến pháp mới kết tinh ý Đảng, lòng Dân sẽ tạo nên sự đồng thuận xã hội và là nguồn sức mạnh mới, hứa hẹn những thắng lợi to lớn hơn trong sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không thế lực nào có thể xuyên tạc được Hiến pháp, ngăn cản bước tiến của cách mạng Việt Nam.
“Ý Đảng, lòng Dân được thể hiện hòa quyện sâu sắc trong Hiến pháp. Đó là bảo đảm chính trị - pháp lý vững chắc cho Dân tộc ta, Nhân dân ta và Nhà nước ta vững bước tiến lên trước những thách thức mới của thời đại; là nhân tố cho toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân đồng lòng đưa Hiến pháp vào cuộc sống; là nhân tố để nước ta vững bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển về mọi mặt và hội nhập quốc tế”1.
Những ai thực lòng yêu nước, mong muốn đất nước ổn định và phát triển mạnh mẽ hơn thì không thể đứng ngoài cuộc mà hãy hòa mình cùng toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân đón nhận thời cơ, vận hội mới mà Hiến pháp 2013 - một dấu mốc lịch sử mới đang tạo ra cho đất nước.
TRUNG HIẾU
_______
1 - Lời Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, trong bài “Hiến pháp sửa đổi là bảo đảm chính trị - pháp lý vững chắc để toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân ta đồng lòng vững bước tiến lên trong thời kỳ mới”.

Việt Nam hiện nay không có cơ sở xã hội cho chế độ đa đảng

TỐNG THẾ GIA
Đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch và những người bất mãn với chế độ nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Điều đó không có cơ sở.
Trong lịch sử, chế độ đa nguyên, đa đảng đã sớm xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII. Đây là thời điểm giai cấp tư sản (GCTS) đóng vai trò là lực lượng xã hội tiến bộ, tích cực, tiên phong trong đấu tranh chống độc quyền, bảo vệ quyền bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản. Khi các tổ chức độc quyền xuất hiện, đa nguyên chính trị mất dần ý nghĩa ban đầu, trở thành thủ đoạn để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các nhóm, tổ chức độc quyền có lực lượng ngang bằng nhau và là bình phong “dân chủ” che đậy sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội tư bản. Dù đã tìm mọi cách để che đậy, song GCTS vẫn không thể phủ nhận được mục đích duy nhất của chế độ “đa nguyên, đa đảng” trong xã hội tư bản là bảo đảm quyền lực của GCTS, bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột bằng mọi giá.
Chế độ đa đảng ở các nước phương Tây, bề ngoài thì các đảng chính trị có vẻ như được tự do, bình đẳng tranh cử để trở thành đảng cầm quyền, chi phối Quốc hội và Chính phủ. Nhưng thực chất bên trong, cũng chỉ có những đảng lớn được sự ủng hộ của các thế lực tư bản độc quyền mới giành được vai trò chấp chính. Đảng Cộng sản ở các nước tư bản không bao giờ được bình đẳng trong tranh cử. Ở một số nước tư bản hiện nay, đặc biệt là Mỹ, bên cạnh xã hội được coi là “miền đất hứa” với những ánh hào nhoáng, vẫn còn tồn tại một “xã hội” khác hoàn toàn với đầy rẫy những bất công, bạo lực, đói nghèo, thất nghiệp, mất dân chủ,… Mỹ có 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Cộng hòa và Dân chủ) thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, song xét về bản chất, đó chỉ là một đảng - đảng của GCTS. Dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa nắm quyền cũng đều là đảng của GCTS, đều nhận sự tài trợ của các tập đoàn kinh tế, đại diện cho lợi ích của GCTS. Vì thế, dân chủ ở Mỹ là nền dân chủ tư sản; nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Chính phong trào “Chiếm phố Uôn” ở nước Mỹ năm 2011 đã vạch trần thực chất nền dân chủ của Mỹ là nền dân chủ phục vụ “cho 1%, của 1%, vì 1%” dân Mỹ; đó là các nhà tư bản tài phiệt. Các nước có hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng nhưng vẫn thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị, đảo chính làm cho xã hội bất ổn. Rõ nhất trong những ngày gần đây, những bất ổn chính trị ở U-crai-na hay ở Thái Lan diễn ra có nguyên nhân chủ yếu là do đảng cầm quyền và đảng đối lập mâu thuẫn nhau về lợi ích, dẫn đến đảng đối lập kích động quần chúng biểu tình, đưa yêu sách lật đổ chính phủ hợp pháp đang điều hành đất nước. Hậu quả là, quyền dân chủ của người dân bị lợi dụng phục vụ cho mục đích riêng của từng đảng. Rõ ràng, đâu phải cứ có đa đảng mới có dân chủ? Chế độ đa đảng tư sản về thực chất vẫn dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị và chỉ có một đảng cầm quyền.
Thực tế luôn khẳng định, dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế một đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và đảng đó phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào cũng như cách thức vận hành cụ thể của bộ máy nhà nước theo quan điểm của giai cấp đó. Việc thực hiện chế độ một đảng hay nhiều đảng phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo cụ thể của mỗi quốc gia. Lựa chọn thể chế chính trị một đảng hay đa đảng là quyền tự quyết của mỗi nước, không một thế lực nào có thể áp đặt cho nước khác. Dân chủ chỉ được đảm bảo trong điều kiện đảng cầm quyền thực sự cách mạng, hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Dân chủ suy đến cùng là quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa thành các chuẩn mực mang tính nhà nước và pháp quyền; thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của nhà nước cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo nên chế độ dân chủ. Vì vậy, không ai khẳng định là nhiều đảng sẽ tốt hơn một đảng. Chế độ đa nguyên, đa đảng không bao giờ và không thể mang lại những giá trị dân chủ đúng nghĩa đối với quảng đại quần chúng nhân dân, mà chỉ mang lại lợi ích cho các chính đảng trong thể chế chính trị.
Vừa qua tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp mới phản ánh đúng “ý Đảng, lòng Dân”; đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là sự áp đặt hay ý muốn chủ quan của Đảng, mà do lịch sử giao phó, nhân dân đồng tình ủng hộ và được Hiến pháp xác nhận. Trong đó, bản Hiến pháp cũng làm rõ và sâu sắc hơn bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong, tính nhân dân của ĐCSVN và bổ sung một yêu cầu rất quan trọng. Đó là: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Thế nhưng, gần đây trên các trang mạng xã hội lại rộ lên một số bài viết lạc lõng về đề tài này. Lời lẽ của những bài viết đó chẳng có gì mới, vẫn là sự lặp lại những ngôn từ cũ rích. Họ rêu rao “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; đòi Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ “thực sự” hoặc chỉ có thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”,… Có người còn lớn tiếng kêu gọi những đảng viên Cộng sản hãy ra khỏi Đảng để thành lập một đảng mới, làm đối trọng với ĐCSVN. Trên thực tế, họ đã tuyên bố rời bỏ lý tưởng cách mạng, để thực hiện ý đồ về cái gọi là “xây dựng xã hội dân chủ” ở Việt Nam. Họ cho rằng, có như vậy thì mới “rảnh tay” để đấu tranh chống lại ĐCSVN, xây dựng “xã hội dân chủ”(!). Với vỏ bọc “vì dân, vì nước”, “đấu tranh cho nền dân chủ ở Việt Nam”, những tuyên bố của họ đã làm cho một số ít người thiếu hiểu biết lầm tưởng rằng: cứ có nhiều đảng thì xã hội sẽ có dân chủ hơn, có động lực để phát triển nhanh hơn.
Đó là luận điệu hoàn toàn sai lầm! Bởi lẽ, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo ở Việt Nam hoàn toàn không đồng nghĩa với việc mất dân chủ, triệt tiêu dân chủ như họ đã và đang ra sức xuyên tạc. Ở Việt Nam, sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSVN từ khi ra đời đến nay là sự lựa chọn khách quan của lịch sử; nền chính trị nhất nguyên ở nước ta là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Đó là độc lập, tự do cho Tổ quốc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của quần chúng nhân dân; được xây dựng trên cơ sở lắng nghe, tiếp thu ý kiến xây dựng của mọi tổ chức chính trị - xã hội, của các đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Trong mỗi kỳ đại hội Đảng, gần đây là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Đảng tổ chức lấy ý kiến nhân dân và nhận được 26 triệu lượt ý kiến tâm huyết của nhân dân cả nước góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Đây chính là những biểu hiện cao nhất, sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội, đề cao quyền làm chủ thực sự của nhân dân lao động.
Chúng ta đều biết, không phải Việt Nam chưa từng có chế độ đa đảng, mà còn có các đảng khác, như: Đảng Dân chủ Việt Nam (thành lập ngày 30-6-1944), Đảng Xã hội Việt Nam (thành lập ngày 22-7-1946) theo sáng kiến của ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm tập hợp những trí thức yêu nước, những thương gia, kỹ nghệ gia, cả những viên chức của chế độ cũ tham gia cách mạng. Đây là vấn đề sách lược, nhằm mở rộng thành phần của Mặt trận Việt Minh, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Cần nhấn mạnh rằng, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam là những tổ chức yêu nước chân chính, thành viên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSVN. Điều đó cũng có nghĩa, trong suốt quá trình tồn tại của mình, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội chưa bao giờ là lực lượng đối lập, trái lại luôn là đồng chí chân thành của ĐCSVN. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới do ĐCSVN khởi xướng và lãnh đạo, xét thấy lý do và mục đích tồn tại không phù hợp nữa, không phát triển thêm được đảng viên mới, hai đảng này đã tự nguyện giải tán, chứ hoàn toàn không phải bị ai “bức tử” như có người hàm hồ, vô trách nhiệm rêu rao trên mạng xã hội gần đây.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN đã thu được nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước. Đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao; dân chủ xã hội ngày càng được bảo đảm,… Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong công cuộc giải phóng dân tộc trước kia, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tiễn đó cũng là minh chứng hùng hồn để bác bỏ ý kiến của những người lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động.
Thật nực cười khi có kẻ thiển cận cho rằng: cứ có nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế thì tất yếu dẫn đến nền chính trị thị trường, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở thượng tầng kiến trúc. Hoàn toàn không có “cái tất yếu” đó! Tư duy như vậy chỉ là hình thức, là ngụy biện, vì nền kinh tế thị trường không dẫn đến chính trị thị trường như “gan tiết ra mật”. Quy luật lịch sử đã chứng minh, tuy cơ sở hạ tầng có vai trò quyết định đối với thượng tầng kiến trúc, nhưng thượng tầng kiến trúc không phải là sản phẩm thụ động của cơ sở hạ tầng mà chúng có khả năng tác động trở lại rất mạnh mẽ đối với cơ cấu kinh tế của xã hội. Bản thân các yếu tố, các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, như: chính trị, pháp lý, đạo đức,… cũng có sự tác động qua lại với nhau; cho nên, việc hình thành các đảng phái chính trị không chỉ phụ thuộc vào kinh tế, mà còn phụ thuộc rất lớn vào một loạt các yếu tố khác, như: tương quan giai cấp trong xã hội, vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, truyền thống,… của một đất nước. Thực tế cho thấy, nền kinh tế của Việt Nam đang xây dựng là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng lớp xã hội không có mâu thuẫn đối kháng về lợi ích. Lợi ích của nhà tư sản dân tộc, của Nhà nước và người lao động là thống nhất; cho nên, không tạo ra những lực lượng chính trị đối lập trong xã hội và không có cơ sở xã hội cho các đảng phái chính trị đối lập xuất hiện. Chính những thành tựu được nêu trên đã một lần nữa khẳng định: ĐCSVN không chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng XHCN, xây dựng CNXH và mang lại cho nhân dân lao động cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc.
Như vậy, hiện nay ở Việt Nam không có cơ sở xã hội cho chế độ đa đảng. Hệ thống chính trị ở Việt Nam vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Xã hội Việt Nam không có mâu thuẫn đối kháng. Đảng, Nhà nước không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Mục tiêu và lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân là thống nhất cùng thực hiện xây dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Ý đồ thâm độc của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” chỉ có mục đích duy nhất là nhằm xóa bỏ ĐCSVN khỏi đời sống chính trị của đất nước, cổ vũ cho các đảng tư sản hoạt động ở nước ta, đưa Việt Nam phát triển theo “khuôn mẫu” của các nước phương Tây. Điều đó sẽ không bao giờ thành hiện thực. Vì sự ổn định chính trị và phát triển đất nước, nhân dân ta không cho phép các tổ chức chính trị đối lập ra đời và không thực hiện chế độ đa đảng. Đa đảng hoàn toàn không phù hợp với đời sống chính trị, thực tiễn của nước ta và không phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta.
 Tạp chí QPTD, Số 1/2014