Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

THÔNG CÁO BÁO CHÍ HỘI NGHỊ TRƯNG ƯƠNG 3 KHÓA 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

TTXVN (Bắc Kinh 13/11)
(Hội nghị toàn thể lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá 18 thông qua ngày 12/11/2013)
Hội nghị toàn thể lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá 18 (Hội nghị Trung ương 3 khoá 18) diễn ra từ ngày 9-12/11/2013 tại Bắc Kinh.
Tham dự Hội nghị lần này có 204 ủy viên Trung ương, 169 ủy viên dự khuyết. Các ủy viên Thường vụ ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương và các đồng chí phụ trách liên quan tham dự Hội nghị. Một số đồng chí cấp cơ sở và chuyên gia học giả trong số đại biểu Đại hội 18 của Đảng cũng tham dự Hội nghị.
Hội nghị Trung ương 3 khoá 18 do Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trì. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình có bài phát biểu quan trọng.
Hội nghị đã lắng nghe và thảo luận Báo cáo công tác được Bộ Chính trị uỷ thác cho đồng chí Tập Cận Bình trình bầy, xem xét và thông qua “Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề trọng đại liên quan tới cải cách sâu rộng toàn diện”. Đồng chí Tập Cận Bình đã trình bầy trước Hội nghị nội dung bản dự thảo nghị quyết.
Hội nghị đánh giá cao công tác của Bộ Chính trị kể từ Đại hội 18 của Đảng đến nay. Hội nghị cũng nhất chí rằng đứng trước tình hình quốc tế hết sức phức tạp và nhiệm vụ cải cách, phát triển ổn định trong nước vô cùng gian khó, nặng nề, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quán triệt toàn diện tinh thần Đại hội 18 và Hội nghị Trung ương 1, Hội nghị Trung ương 2, giương cao ngọn cờ vĩ đại chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, lấy lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “ba đại diện”, quan điểm phát triển khoa học làm nguyên tắc chỉ đạo, đoàn kết dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân và nhân dân các dân tộc trên toàn quốc, kiên trì quan điểm cơ bản của công tác là tiến lên trong ổn định, ra sức tăng trưởng ổn định, điều chỉnh kết cấu, thúc đấy cải cách, bình tĩnh ứng phó với các thách thức rủi ro, đẩy mạnh toàn diện xây dụng kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và xây dựng văn minh sinh thái xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy toàn diện công trình vĩ đại mới về xây dựng Đảng, đẩy mạnh vững chắc hoạt động thực tiễn giáo dục đường lối quần chúng của Đảng. Các mặt công tác đã thu được tiến triển mới, thành quả của đẩy mạnh phát triển đã đem lại nhiều lợi ích và công bằng hơn cho toàn thể nhân dân, đã thực hiện một năm khởi đầu tốt đẹp, quán triệt tinh thần Đại hội 18 của Đảng.
Hội nghị đánh giá cao thực tiễn thành công và thành tựu vĩ đại của 35 năm cải cách mở cửa của Hội nghị Trung ương 3 khoá 11, đã nghiên cứu một số vấn đề quan trọng về đi sâu cải cách toàn diện, cho rằng cải cách mở cửa là cuộc cách mạng vĩ đại mà Đảng dẫn dắt nhân dân các dân tộc toàn quốc trong điều kiện thời đại mới, là đặc sắc tươi sáng nhất của Trung Quốc ngày nay, là lựa chọn then chốt quyết định vận mệnh Trung Quốc đương đại, là phép mầu quan trọng trong sự nghiệp của Đảng và nhân dân theo kịp thời đại. Đứng trước tình hình mới, nhiệm vụ mới, xây dựng toàn diện xã hội khá giả, tiến tới xây dựng thành công giấc mộng Trung Hoa về một đất nước hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa giầu mạnh, dân chủ văn minh, hài hoà, phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại, cần phải đi sâu cải cách toàn diện trên khởi điểm lịch sử mới.
Hội nghị nhấn mạnh đi sâu cải cách toàn diện, cần phải giương cao ngọn cờ vĩ đại chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “ba đại diện”, quan điểm phát triển khoa học làm nguyên tắc chỉ đạo, kiên định lòng tin, tạo sự đồng thuận, lập kế hoạch tổng thể, chỉ đạo điều phối kiên trì phương hướng cải cách kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, lấy thúc đẩy công bằng chính nghĩa xã hội, tăng thêm phúc lợi nhân dân làm xuất phát điểm và đích đến, tiến thêm một bước trong việc giải phóng tư tưởng, giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội, giải phóng và tăng cường sức sống xã hội, kiên quyết bài trừ các tệ nạn trong thể chế, cơ chế, nỗ lực mở ra tương lai rộng mở hơn cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.
Hội nghị chỉ rõ mục tiêu chung của đi sâu cải cách toàn diện là hoàn thiện và phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc thúc đẩy hiện đại hoá hệ thống quản lý và năng lực quản lý của đất nước. Cần phải chú trọng hơn tính hệ thống, tổng thể và phối hợp trong cải cách, đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, chính trị dân chủ, văn hoá tiên tiến, xã hội hài hoà và văn minh sinh thái, kết hợp sức lao động, tri thức, công nghệ, quản lý và tài chính để tạo thêm nhiều của cải xã hội, để thành quả phát triển mang lại nhiều lợi ích hơn và công bằng hơn cho toàn thể nhân dân.
Hội nghị chỉ rõ phải bám sát đề cao vai trò của thị trường, để thị trường giữ vai trò quyết định trong phân phối tài nguyên, cải cách sâu rộng thể chế kinh tế, kiên trì và hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản, đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống thị trường hiện đại, hệ thống điều tiết vĩ mô, hệ thống kinh tế theo mô hình mở, đẩy nhanh chuyển biến phương thức phát triển kinh tế, đẩy nhanh xây dựng nhà nước theo mô hình đổi mới, thúc đẩy kinh tế phát triển hiệu quả hơn, công bằng hơn, bền vững hơn; bám sát đi sâu cải cách thể chế chính trị một cách thống nhất hữu cơ giữa kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân làm chủ và quản lý đất nước theo pháp luật, đẩy nhanh thực hiện chế độ hoá, quy phạm hoá, trình tự hoá chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa, phát triển dân chủ nhân dân rộng khắp hơn, phong phú hơn, kiện toàn hơn; bám sát đi sâu cải cách thể chế văn hoá theo hướng xây dựng thể chế giá trị hạt nhân xã hội chủ nghĩa và cường quốc văn hoá xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế quản lý văn hoá và thể chế sản xuất kinh doanh văn hoá, xây dựng và kiện toàn hệ thống dịch vụ văn hoá cộng đồng hiện đại, hệ thống thị trường văn hoá hiện đại, thúc đẩy văn hoá xã hội chủ nghĩa phát triển hơn nữa, phong phú hơn nữa; bám sát đi sâu cải cách thể chế xã hội theo hướng đảm bảo tốt hơn về an sinh xã hội, thúc đẩy xã hội công bằng, cải cách chế độ phân phối thu nhập, thúc đẩy cùng giầu có, đẩy mạnh đổi mới chế độ xã hội, thúc đẩy đồng đều hóa dịch vụ công cơ bản, đẩy nhanh hình thành thể chế quản lý xã hội khoa học hiệu quả, bảo đảm xã hội vừa có sức sống mạnh mẽ vừa hài hoà có trật tự; bám sát đi sâu cải cách thể chế văn minh sinh thái theo hướng xây dựng Trung Quốc mỹ lệ, đẩy nhanh xây dựng chế độ văn minh sinh thái, kiện toàn thể chế, cơ chế khai thác phát triển không gian lãnh thổ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy hình thành cục diện mới về xây dựng hiện đại hoá phát triển hài hoà giữa con người với thiên nhiên; bám sát đi sâu cải cách công tác xây dựng Đảng theo hướng nâng cao trình độ thực thi quyền lực khoa học, thực thi quyền lực dân chủ và thực thi quyền lực theo pháp luật, tăng cường xây dựng chế độ tập trung dân chủ, hoàn thiện thể chế lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng, giữ gìn tính tiên tiến, tính thuần khiết của Đảng, bảo đảm giữ vững nền tảng chính trị kiên cường cho công cuộc cải cách mở cửa và xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị chỉ rõ đi sâu cải cách toàn diện phải xuất phát từ thực tế lớn nhất là Trung Quốc ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội trong suốt một thời gian dài, kiên trì phát triển vẫn là chiến lược trọng đại, là mấu chốt để giải quyết mọi vấn đề của Trung Quốc, lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, phát huy vai trò dẫn dắt của cải cách thể chế kinh tế, thúc đẩy quan hệ sản xuất và sức sản xuất, kiến trúc thượng tầng phải thích ứng với cơ sở kinh tế, thúc đẩy kinh tế xã hội tiếp tục phát triển lành mạnh.
Hội nghị nêu rõ cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm đi sâu cải cách toàn diện, vấn đề cốt lõi là giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính phủ với thị trường, làm cho thị trường giữ vai trò mang tính quyết định trong phân phối tài nguyên và phát huy tốt hơn vai trò của chính phủ.
Hội nghị cũng nhấn mạnh thực tiễn cải cách mở cửa thành công là kinh nghiệm quan trọng cho đi sâu cải cách toàn diện, phải kiên trì lâu dài. Điều quan trọng nhất là kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt đường lối cơ bản của Đảng, không đi con đường cũ là đóng cửa, cứng nhắc, không đi theo con đường bất chính thay đổi hình thái ý thức chính trị (ám chỉ con đường tư bản chủ nghĩa phương tây), kiên định đi theo con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc kiên định đảm bảo phương hướng cải cách đúng đắn, kiên trì giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị, theo kịp thời đại, thực chất, tất cả đều phải xuất phát từ thực tế, tổng kết biện pháp thành công trong nước, học tập kinh nghiệm có lợi của nước ngoài, mạnh dạn thúc đẩy sáng tạo lý luận và thực tiễn; kiên trì lấy con người làm gốc, tôn trọng vai trò chủ thể của nhân dân, phát huy tinh thần sáng tạo của quần chúng, dựa vào nhân dân để thúc đẩy cải cách, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người; kiên trì giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định, mạnh dạn, tiến bước vững chắc, tăng cường kết hợp giữa xây dựng kiến trúc thượng tầng và dò đá qua sông, thúc đẩy thực hiện tổng thể và đột phá trọng điểm, nâng cao tính khoa học trong quyết sách cải cách, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, hình thành sức mạnh cải cách tổng hợp.
Hội nghị yêu cầu đến năm 2020, trong cải cách lĩnh vực quan trọng và khâu then chốt phải đạt được thành quả mang tính quyết định, hình thành hệ thống chế độ hoàn thiện, khoa học quy phạm, vận hành hiệu quả, làm cho chế độ hoàn thiện hơn, định hình hơn về mọi mặt.
Đối với đi sâu cải cách toàn diện, Hội nghị đề ra phải bố trí có hệ thống, nhấn mạnh kiên trì và hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản, tăng cường hoàn thiện hệ thống thị trường hiện đại, đẩy nhanh việc chuyển đổi chức năng chính phủ, đi sâu cải cách chế độ thuế, kiện toàn cơ chế nhất thể hóa phát triển thành thị nông thôn, xây dựng thể chế kinh tế mới theo hướng mở cửa, tăng cường xây dựng chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy xây dựng Trung Quốc pháp trị, tăng cường hệ thống giám sát và kiểm soát quyền lực, thúc đẩy sáng tạo cơ chế văn hóa, thúc đẩy sáng tạo sự nghiệp cải cách xã hội, sáng tạo thể chế quản lý xã hội, đẩy nhanh xây dựng chế độ văn minh sinh thái, đi sâu cải cách quốc phòng và quân đội, tăng cường và cải thiện sự lãnh đạo của Đảng đối với việc đi sâu cải cách mở cửa.
Hội nghị chỉ rõ thể chế kinh tế cơ bản trong đó sở hữu nhà nước là một chủ thể, phát triển đồng thời nhiều hình thức sở hữu là trụ cột quan trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, cũng là nền móng của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thuộc sở hữu nhà nước và không thuộc sở hữu nhà nước đều là bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đều là cơ sở quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc. Phải kiên trì củng cố và phát triển kinh tế sở hữu nhà nước, coi trọng vai trò chủ thể của chế độ sở hữu nhà nước, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu, không ngừng tăng cường sức sống, sức khống chế, sức ảnh hựởng của kinh tế quốc hữu. Phải không ngừng khuyến khích, ủng hộ, dẫn dắt sự phát triển kinh tế chế độ không thuộc sở hữu nhà nước, khơi nguồn sức sống và sức sáng tạo của kinh tế không thuộc sở hữu nhà nước. Phải hoàn thiện chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tích cực phát triển kinh tế sở hữu nhiều thành phần, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước hoàn thiện chế độ doanh nghiệp hiện đại, ủng hộ kinh tế không thuộc sở hữu nhà nước phát triển lành mạnh.
Hội nghị nêu rõ xây dựng hệ thống thị trường mở cửa đồng nhất, cạnh tranh có trật tự là cơ sở để thị trường có vai trò mang tính quyết định trong phân phối tài nguyên. Phải đẩy nhanh hình thành hệ thống thị trường hiện đại doanh nghiệp tự chủ kinh doanh, cạnh tranh công bằng, người tiêu dùng tự do lựa chọn, tự chủ tiêu dùng, hàng hóa tự do lưu thông, trao đổi bình đẳng, ra sức xóa bỏ rào cản thị trường, nâng cao hiệu quả và tính công bằng trong phân phối tài nguyên. Phải xây dựng nguyên tắc thị trường công bằng, mở cửa, minh bạch, hoàn thiện cơ chế giá chủ yếu do thị trường quyết định, xây dựng thị trường đất đai thống nhất giữa thành thị và nông thôn, hoàn thiện hệ thống thị trường tài chính, đi sâu cải cách thể chế khoa học kỹ thuật.
Hội nghị chỉ rõ điều chỉnh vĩ mô khoa học, quản lý chính phủ hiệu quả là yêu cầu nội tại phát huy ưu thế của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Phải chuyển đổi thiết thực chức năng chính phủ, đi sâu cải cách thể chế hành chính, sáng tạo phương thức quản lý hành chính, củng cố lòng tin và chấp hành sự chỉ đạo chính phủ, xây dựng chính phủ pháp trị và chính phủ theo kiểu phục vụ. Phải kiện toàn hệ thống điều hành, điều tiết vĩ mô, thực hiện toàn diện, đúng đắn chức năng chính phủ, tối ưu hóa kết cấu tổ chức chính phủ, nâng cao trình độ quản lý khoa học.
Hội nghị nêu rõ tài chính là cơ sở và trụ cột quan trọng trong quản trị quốc gia, thể chế hóa thuế và tài chính một cách khoa học là sự bảo đảm chế độ tối ưu hóa phân phối tài nguyên, duy trì sự đồng nhất của thị trường, thúc đẩy công bằng xã hội, giữ gìn ổn định trị an xã hội. Phải hoàn thiện lập pháp, xác định rõ quyền lực, cải cách chế độ thuế ổn định, dự toán minh bạch, nâng cao hiệu quả, xây dựng chế độ tài chính hiện đại, phát huy tính tích cực của trung ương và địa phương. Phải cải tiến chế độ quản lý dự toán, hoàn thiện chế độ thu thuế, xây dựng chế độ quyền và trách nhiệm chi tiêu cùng phù hợp.
Hội nghị nêu rõ rằng kết cấu nhị nguyên thành thị-nông thôn là trở ngại chủ yếu trói buộc nhất thể hóa phát triển thành thị-nông thôn. Phải kiện toàn cơ chế thể chế, hình thành hệ thống thành thị-nông thôn công nông kiểu mới lấy công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp phát triển, lấy thành thị vực nông thôn, phát triển đồng thời cả công nghiệp và nông nghiệp, thành thị và nông thôn là một chính thể thống nhất, để đông đảo nông dân bình đẳng tham gia tiến trình hiện đại hóa, cùng chia sẻ thành quả hiện đại hóa. Phải đẩy nhanh xây dụng hệ thống kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trao cho nông dân nhiều quyền về tài sản hơn nữa, thúc đẩy phân phối công bằng tài nguyên chung và trao đổi bình đẳng, hoàn thiện cơ chế đô thị hóa phát triển lành mạnh.
Hội nghị chỉ rõ rằng để thích ứng với tình hình kinh tế toàn cầu hóa mới, phải đẩy mạnh mở cửa đối nội, đối ngoại, kết hợp tốt giữa thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài, thúc đẩy yếu tố quốc tế và trong nước lưu thông tự do có trật tự, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thâm nhập sâu vào thị trường, tạo ra nhiều ưu thế cạnh tranh mới đế tham gia và dẫn dắt hơp tác kinh tế thế giới, góp phần đẩy nhanh công cuộc cải cách mở cửa. Phải mở rộng đầu tư, đẩy nhanh xây dựng phát triển khu thương mại tự do, mở cửa biên giới phía Tây.
Hội nghị nêu rõ phát triển chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì và hoàn thiện chế độ đại hội đại biểu nhân dân, chế độ hợp tác đa đảng và hiệp thương chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ khu tự trị dân tộc và chế độ quần chúng tự quản cấp cơ sở, chú trọng hơn nữa đến việc kiện toàn chế độ dân chủ, hình thức dân chủ phong phú, phát huy tối đa tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, cần thúc đẩy phát triển chế độ đại hội đại biểu nhân dân theo kịp thời đại, thực hiện chế độ hóa dân chủ hiệp thương sâu rộng, phát triển dân chủ cơ sở.
Hội nghị chỉ rõ xây dựng Trung Quốc pháp trị cần đi sâu cải cách thể chế tư pháp, đẩy nhanh việc xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, chính trực, hiệu quả cao và có quyền uy cần duy trì quyền lực tối cao của hiến pháp pháp luật, đi sâu cải cách chế độ hành chính, thực thi pháp luật, đảm bảo quyền điều tra xét xử, quyền thanh tra công bằng, độc lập trên cơ sở luật pháp, kiện toàn cơ chế thực thi quyền lực tư pháp, hoàn thiện chế độ đảm bảo nhân quyền.
Hội nghị chỉ rõ kiên trì quản lý quyền lực, quản lý công việc, quản lý con người bằng chế độ, để nhân dân giám sát quyền lực, để quyền lực được thực thi minh bạch, là quyết sách cơ bản để quản lý quyền lực trong khuôn phép chế độ cần xây dựng hệ thống thực thi quyền lực với việc đưa ra quyết sách khoa học, thực thi kiên quyết, giám sát chặt chẽ, kiện toàn cơ chế phòng, chống tham nhũng, xây dựng chính trị trong sạch, liêm khiết, nỗ lực thực hiện cán bộ trong sạch, ngay thẳng, chính phủ trong sạch, liêm khiết, chính trị trong sạch, sáng suốt. Phải hình thành cơ chế quản lý và phối hợp quyền lực một cách khoa học và có hiệu quả, tăng cường tính sáng tạo và đảm bảo cơ chế phòng, chống tham nhũng, kiện toàn cải tiến chế độ chuẩn hóa tác phong.
Hội nghị chỉ rõ xây dựng cường quốc văn hóa xã hội chủ nghĩa, tăng cường quyền lực mềm về văn hóa quốc gia, phải kiên trì phát triển văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa, kiên trì đường lối phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, kiên trì phương hướng công tác lấy nhân dân làm trung tâm, đi sâu cải cách thể chế văn hóa hơn nữa. Phải hoàn thiện thể chế quản lý, xây dựng kiện toàn hệ thống văn hóa hiện đại, tạo cơ chế dịch vụ văn hóa công cộng, mở rộng giao lưu văn hóa.
Hội nghị nêu rõ để thành quả phát triển đem lại nhiều lợi ích và công bằng hơn đến với toàn thể nhân dân, phải tăng cường cải cách sự nghiệp xã hội, giải quyết tốt vấn đề lợi ích mà người dân quan tâm nhất, trực tiếp nhất và thiết thực nhất, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người dân. Cần đi sâu cải cách toàn diện giáo dục, kiện toàn thúc đẩy cơ chế việc làm và lập nghiệp, hình thành mô hình phân phối thu nhập hợp lý, có trật tự, xây dựng chế độ bảo đảm an sinh xã hội công bằng, bền vững hơn, đi sâu cải cách hệ thống y tế và quản lý dược phẩm.
Hội nghị chỉ rõ rằng sáng tạo trong quản lý xã hội phải chú trọng đến việc duy trì lợi ích căn bản của đại đa số, ra sức nhân rộng yếu tố hài hòa, tăng cường sức sống phát triển xã hội, nâng cao trình độ quản lý xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, đảm bảo nhân dân an cư lạc nghiệp, giữ gìn trật tự xã hội. Phải cải tiến phương thức quản lý xã hội, khuyến khích nguồn lực tổ chức xã hội, sáng tạo cơ chế phòng ngừa có hiệu quả và giải quyết mâu thuẫn xã hội, kiện toàn hệ thống an ninh công cộng. Thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, hoàn thiện thể chế và chiến lược an ninh quốc gia, bảo đảm an ninh quốc gia.
Hội nghị chỉ rõ phải xây dựng thể chế, chế độ văn minh sinh thái một cách có hệ thống và hoàn chỉnh, bảo vệ môi trường sinh thái bằng chế độ. Phải kiện toàn chế độ quyền sở hữu và quản lý khai thác tài sản tài nguyên thiên nhiên, đưa ra giới hạn đỏ về bảo vệ sinh thái, thực hiện chế độ sử dụng tài nguyên có bồi thường và chế độ đền bù sinh thái, cải cách chế độ quản lý bảo vệ môi trường sinh thái.
Hội nghị nêu rõ bám sát mục tiêu xây dựng quân đội hùng cường với một đội quân nhân dân tuân theo sự chỉ huy của Đảng, có thế đánh thắng trận, tác phong tốt trong tình hình mới, ra sức giải quyết vấn đề mâu thuẫn nổi cộm hạn chế xây dựng phát triển quốc phòng và quân đội, đổi mới phát triển lý luận quân sự, tăng cường chỉ đạo chiến lược quân sự, hoàn thiện phương châm chiến lược quân sự thời kỳ mới, xây dựng hệ thống sức mạnh quân sự hiện đại đặc sắc Trung Quốc, cần đi sâu cải cách điều chỉnh biên chế quân đội, thúc đẩy cải cách, điều chỉnh chế độ chính sách quân đội, đẩy mạnh phát triển hòa hợp đi vào chiều sâu giữa quân đội và nhân dân.
Hội nghị nhấn mạnh đi sâu cải cách toàn diện phải tăng cường và cải thiện sự lãnh đạo của Đảng, phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo là Đảng nắm toàn diện, điều hoà giữa các bên, nâng cao trình độ lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm chắc chắn cải cách thu được thành công. Trung ương thành lập nhóm lãnh đạo đi sâu cải cách toàn diện, chịu trách nhiệm lập kế hoạch tổng hợp, điều hoà phối hợp, bao quát toàn diện, đôn đốc thực hiện. Các cấp ủy đảng phải thực hiện thiết thực trách nhiệm lãnh đạo cải cách. Phải đi sâu cải cách chế độ nhân sự cán bộ, xây dựng cơ chế tập hợp được nhân tài, phát huy đầy đủ tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo của quần chúng nhân dân, khuyến khích cơ sở địa phương và quần chúng mạnh dạn tìm tòi, kịp thời tổng kết kinh nghiệm.
Hội nghị đã phân tích tình hình và nhiệm vụ hiện nay, nhấn mạnh các đồng chí trong toàn Đảng phải thống nhất tư tưởng và hành động trong việc triển khai các quyết sách quan trọng về đi sâu cải cách toàn diện, tăng cường ý chí tiến thù, ý thức cơ hội, ý thức trách nhiệm, nắm vững phương hướng, mạnh dạn tìm tòi thực tiễn, chú trọng phối hợp điều hoà, tạo sự đồng thuận trong cải cách, thực hiện trách nhiệm lãnh đạo, kiên định thực hiện quyết sách cải cách của trung ương. Phải căn cứ vào quyết sách của trung ương, kiên trì tiến lên trong ổn định, đạt được thành quả trong ổn định, thực sự làm tốt các mặt công tác, duy trì xu thế phát triển kinh tế, xã hội, quan tâm đến quần chúng đặc biệt là đời sống của quân chúng khó khăn, phát triển xã hội ổn định hài hoà, tiếp tục đẩy mạnh vững chắc hoạt động thực tiễn giáo dục đường lối quần chúng của Đảng, nỗ lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đã đề ra.
Hội nghị kêu gọi các đồng chí trong toàn Đảng phải đoàn kết, gắn bó trong Trung ương Đảng do đồng chí Tập Cận Bình làm Tổng Bí thư, anh dũng tiến lên, vượt qua mọi khó khăn, viết nên trang sử mới trong sự nghiệp vĩ đại cải cách mở cửa, phấn đấu xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện, không ngừng giành được những thắng lợi mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, thực hiện “giấc mộng Trung Hoa” là phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Năm, ngày 14/11/2013

Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa

(TuanVietNam) – Chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những lựa chọn khó khăn và thử thách đất nước đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.

Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của nhóm tác giả Dương Danh Huy – Lê Minh Phiếu như một góc nhìn riêng để tham khảo. Bài viết này cũng đã được đọc tại Hội thảo hè tháng 8/2009.
Trong năm 2009, cuộc đàm phán phân định chủ quyền và khảo sát chung trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ bước sang vòng thứ 6. Cuộc đàm phán này được tiến hành lần đầu tiên vào hai ngày 18-19/1/20061, và cho tới ngày 6/1/2009 hai bên đã trải qua 5 vòng đàm phán2. Nếu vòng đàm phán thứ 6 là một bước lớn đi đến kết quả thì nó sẽ là một trong những diễn biến quan trọng nhất liên quan đến tranh chấp biển Đông.
Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng3. Trong khu vực này, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc cách nhau dưới 400 hải lý. Vì vậy, chiếu theo UNCLOS, ranh giới được đàm phán là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt4, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”5và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói: “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này6.
Chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông nói chung là gác vấn đề tranh chấp chủ quyền, phân định chủ quyền sang một bên và cùng các nuớc trong tranh chấp khai thác kinh tế. Ngược lại, là nước nhỏ, nhu cầu của Việt Nam là “rào dậu tốt tạo láng giềng tốt”. Vì vậy, Việt Nam đang ở trong thế muốn phân định chủ quyền một cách công bằng trong khi Trung Quốc không thật sự muốn.
Nhưng theo chúng tôi:
  • Thứ nhất, chỉ có việc phân định chủ quyền một cách công bằng, chứ không phải là khai thác chung, mới có thể là giải pháp cơ bản, lâu dài. Khai thác chung trong khi chưa phân định chủ quyền chỉ có thể là giải pháp tạm thời.
  • Thứ nhì, để khai thác chung, những vấn đề cơ bản sau cần được xác định:
    • Hợp tác khảo sát và khai thác trong vùng nào?
    • Mỗi bên gánh chịu bao nhiêu nghĩa vụ và được hưởng bao nhiêu quyền lợi trong việc khảo sát và khai thác?
Cụ thể, nếu vùng khai thác chung là vùng thuộc Việt Nam theo luật quốc tế thì việc khai thác chung không thể nào được xem là công bằng.
Nếu lý lẽ chủ quyền của hai bên có cơ sở pháp lý tương đương và vùng tranh chấp có diện tích nhỏ thì hai bên có thể chấp nhận khai thác chung, vì bất công cho một trong hai nước sẽ tương đối nhỏ7.
Nhưng nếu vùng tranh chấp có diện tích lớn và lý lẽ của một bên quá vô lý thì việc khai thác chung là một điều hoàn toàn bất công cho bên kia.
Trong khu vực từ Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa là vô lý, yêu sách về các vùng biển được cho là thuộc Hoàng Sa cũng vô lý, yêu sách về vùng biển nằm trong đường lưỡi bò càng vô lý. Bằng các yêu sách vô lý đó, Trung Quốc tranh chấp một vùng biển rất rộng lớn của Việt Nam. Việc khai thác chung trong vùng tranh chấp, nếu có, là hoàn toàn bất công cho Việt Nam.
Vì vậy, những nguyên tắc công bằng cho việc phân định vùng biển giữa hai bên vừa có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ quyền, vừa là tiền đề của việc khảo sát, khai thác chung nếu hai bên cùng mong muốn. Vì vậy, bài viết này tập trung vào các nguyên tắc để phân định chủ quyền một cách công bằng.
Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ – một số thử thách mà Việt Nam đang đối diện trong đàm phán.
Việc phân định chủ quyền trong vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ tớI Hoàng Sa có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông vì 3 lý do cơ bản sau:
  • Nó sẽ định đoạt ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
  • Phương pháp phân định ranh giới này và vị trí của ranh giới từ phương pháp này có thể định hướng cho việc phân định ranh giới tiếp nối cho vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông. Cụ thể, nếu Việt Nam không đạt được sự công bằng trong cuộc đàm phán này thì sự không công bằng đó có thể sẽ là tiền lệ cho nguyên tắc phân định các vùng biển khác; và có thể dẫn tới một địa điểm khởi đầu bất lợi cho ranh giới trong các vùng biển khác đó.
  • Cuộc đàm phán để phân định chủ quyền có khía cạnh liên quan tới chủ quyền đối với Hoàng Sa vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng và đang trong tình trạng tranh chấp.
Tuy nhiên, cuộc đàm phán này lại phức tạp hơn những cuộc đàm phán trước đây để phân định ranh giới với với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, ranh giới với Thái Lan và với Indonesia.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán trong một khu vực có quần đảo trong tình trạng tranh chấp chủ quyền. Không những thế, những đảo này đang bị Trung Quốc chiếm đóng.
Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam đàm phán với Trung Quốc để phân định một khu vực trong biển Đông, nơi Trung Quốc đòi hỏi 75% diện tích bằng “đường lưỡi bò”. Trong quá trình đàm phán, có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ đòi hỏi ranh giới dựa trên đường lưỡi bò. Đòi hỏi đó, vốn trái với UNCLOS, là vô lý, và cuộc đàm phán sẽ không thể nào có kết quả công bằng nếu dựa trên nó. Để có thể có một cuộc đàm phán dựa trên sự công bằng, dựa trên luật pháp quốc tế liên quan, Trung Quốc phải từ bỏ việc yêu sách đường lưỡi bò.
Điều đáng lo ngại cho cuộc đàm phán này nói riêng và cho tình hình Biển Đông nói chung là các diễn biến gần đây, ví dụ như liên quan đến việc đăng ký thềm lục địa với Liên Hiệp Quốc và việc Trung Quốc cấm đánh cá hàng năm trên nửa diện tích Biển Đông, cho thấy Trung Quốc đang leo thang trong việc thực hiện yêu sách đường lưỡi bò.
Trong trường hợp Trung Quốc không dùng đường lưỡi bò trong đàm phán nhưng đòi hỏi hiệp định ghi nhận rằng Trung Quốc bảo lưu cái gọi là “quyền lịch sử” của nước này, Việt Nam cũng cần phải thận trọng về sự “bảo lưu” này vì “quyền lịch sử” có thể được Trung Quốc dùng để ám chỉ đường lưỡi bò.
Ngoài những khía cạnh trên, vì đường lưỡi bò hoàn toàn không có cơ sở pháp lý hay công lý, bài viết này sẽ không dùng nó trong các phân tích mà chỉ tập trung vào những nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Vùng biển được đàm phán có hai phần có tính chất khác nhau: khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, nằm phía cửa Vịnh Bắc Bộ, và khu vực biển thuộc Hoàng Sa, bao quanh quần đảo Hoàng Sa.
Cuộc đàm phán để phân định biển chỉ có thể phân định khu vực biển không thuộc Hoàng Sa. Khu vực biển thuộc Hoàng Sa phải thuộc về nước có chủ quyền đối với Hoàng Sa. Vì vấn đề chủ quyền đốI vớI Hoàng Sa chưa được giải quyết, một trong những khía cạnh quan trọng của cuộc đàm phán là xác định khu vực biển nào không thuộc Hoàng Sa, khu vực nào thuộc Hoàng Sa.

Khu vực biển không thuộc Hoàng Sa

Trong khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, bờ biển Việt Nam và bờ biển Trung Quốc đối diện nhau và có chiều dài tương đương. Vì vậy, chiếu theo các án lệ của Toà án Công lý Quốc tế và tập quán quốc tế, đường trung tuyến giữa bờ biển của hai nước sẽ là ranh giới công bằng, như phần Tây Bắc của đường đỏ trong Bản đồ 1.
Trên thực tế, trong quá khứ Trung Quốc đã từng đòi hỏi những vùng biển vượt qua đường trung tuyến, lấn về phía Việt Nam.
Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý8. Vì khu vực này cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý (xem bản đồ 1), khu vực này không thể thuộc Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”9. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bô, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam “không có cơ sở và không thể chấp nhận được”10.
Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí vượt qua đường trung tuyến, lấn về phía Việt Nam (xem Bản đồ 1). Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang bị Trung Quốc khai thác. Vùng lấn sang bên Việt Nam này nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.
Bản đồ 2: Bản đồ của Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác.



Việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.
Trong khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng.

Khu vực biển thuộc Hoàng Sa

Trong khu vực biển thuộc Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc có thể dựa vào tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế lấn sâu vào bên kia đường trung tuyến.
Trên thực tế, ngày 15/5/1996 Trung Quốc công bố một đạo luật xác định đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi rằng khu vực bên trong đường cơ sở, có diện tích 17.400 km², là nội thuỷ và khu vực 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó là lãnh hải của họ11, mặc dù đường cơ sở đó vi phạm UNCLOS12. Những vùng nội thuỷ và lãnh hải này lấn sâu vào bên Việt Nam của đường trung tuyến, như trong Bản đồ 3.
Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn nữa và lấn sâu vào phía Việt Nam hơn nữa. Thí dụ, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc không dùng đường lưỡi bò, họ có thể đòi hỏi tối đa rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa đường cơ sở thẳng họ tuyên bố chung quanh Hoàng Sa và những vùng lãnh thổ khác của Việt Nam, như đường xanh lá cây trong Bản đồ 3. Đòi hỏi đó sẽ phi pháp và bất công vì 3 lý do:
  • Quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là bất hợp pháp.
  • Đương cơ sở thẳng Trung Quốc tuyên bố xung quanh Hoàng Sa vi phạm UNCLOS.
  • Theo tập quán quốc tế và các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa thường không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Bản đồ 3: Trung Quốc có thể đòi hỏi một cách tối đa rằng đường xanh lá cây là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc đã đòi hỏi rằng hình đa giác là nội thuỷ và vùng biển rộng 12 hải lý bên ngoài hinh đa giác là lãnh hải của nước này.
Nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi này hay bất cứ đòi hỏi nào của Trung Quốc để lấn sang đường trung tuyến, vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp. Thêm nữa có thể thấy từ Bản đồ 3 rằng sự thu hẹp đó sẽ dẫn tới thiệt thòi cho Việt Nam nếu trong tương lai có đàm phán phân định các vùng biển nối tiếp về phía Nam. Ngoài ra, nếu chấp nhận như thế thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.
Trong khả năng ngược lại, Việt Nam cũng có thể dựa vào chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên Trung Quốc của đường trung tuyến.
Bản đồ 4: Lãnh hải 12 hải lý thuộc Hoàng Sa có thể là các hình tròn nhỏ. Đường tím là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa và Trung Quốc.
Trước tiên, Việt Nam có thể đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý thuộc các đảo Hoàng Sa, thí dụ như trong Bản đồ 4.
Kế tiếp, Việt Nam có thể đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo Hoàng Sa. Trên lý thuyết, Việt Nam có thể đòi hỏi một cách tối đa rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa tên mức thuỷ triều cao và đảo Hải Nam. Đòi hỏi tối đa đó sẽ không công bằng vì theo tập quán quốc tế và các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa thường không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Trung Quốc là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa, mặc dù việc chiếm đóng đó là bất hợp pháp chiếu theo luật quốc tế, sẽ khó xảy ra khả năng Trung Quốc chấp nhận những yêu sách của Việt Nam để lấn sang đường trung tuyến, nhất là những yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế.
Trước thử thách này, trước khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng và hợp pháp, ví dụ như bởi Toà án Công lý Quốc tế, Việt Nam khó có thể đạt được sự công bằng về vùng biển thuộc Hoàng Sa.
Sự lựa chọn chính và khó khăn nhất cho Việt Nam là giữa 2 giải pháp sau:
  1. Rút lui ra khỏi đàm phán; hay:
  2. Chỉ đàm phán phân định khu vực không thuộc Hoàng Sa. Hoàng Sa và vùng biển bao quanh Hoàng Sa tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Nhược điểm của giải pháp (1) nêu trên là sẽ không có ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong khu vực từ cửa Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa.
Nhược điểm của giải pháp (2) nêu trên là, trên thực tế, Hoàng Sa và khu vực thuộc Hoàng Sa sẽ tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát bất hợp pháp của Trung Quốc cho đến khi nào vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng và hợp pháp. Và trong tương lai, chúng ta không biết được Trung Quốc có sẵn sàng chấp nhận đàm phán chủ quyền đối với Hoàng Sa và khu vực biển bao quanh Hoàng Sa hay không.
Trong trường hợp phải chọn giải pháp (2) nêu trên, Việt Nam cần phải đòi hỏi một phạm vi cho khu vực thuộc Hoàng Sa sao cho giảm tối thiểu thiệt hại.
Ngoài ra, có thể chọn một giải pháp dung hoà giữa 2 giải pháp trên:
  • Đàm phán phân định vùng biển nằm gần cửa Vịnh Bắc Bộ, cách xa Hoàng Sa và chắc chắn không thuộc Hoàng Sa.
  • Không đàm phán phân định vùng biển nằm gần Hoàng Sa.
  • Không công nhận rằng vùng biển thứ nhì có thuộc Hoàng Sa hay không. Vùng biển thứ nhì sẽ tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Trong bất kỳ trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào trong hiệp định có thể bị cho là chấp nhận yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Xác định khu vực biển thuộc Hoàng Sa

Vì Trung Quốc là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa, trong khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa chưa được giải quyết, việc đòi hỏi rằng khu vực biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối đa, thí dụ như với đường cơ sở thẳng và với vùng đặc quyền kinh tế từ đường cơ sở đó ra tới trung tuyến giữa Hoàng Sa và các vùng lãnh thổ khác, đương nhiên sẽ có lợi tối đa cho Trung Quốc. Đòi hỏi đó sẽ là cớ để Trung Quốc khống chế một vùng biển có diện tích tối đa. Như vậy sẽ thiệt hại tối đa cho Việt Nam. Tuy nhiên, như đã lập luận, việc vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa và đòi vùng đặc quyền kinh tế như trên là trái với UNCLOS và tập quán quốc tế.
Nếu Việt Nam cũng có quan điểm như Trung Quốc, tức là đòi hỏi rằng khu vực biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối đa, Việt Nam sẽ bị thiệt hại trong hiện tại, và nếu trong tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì sẽ có nhiều lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, việc đỏi hỏi như thế sẽ không phù hợp với tập quán quốc tế và các án lệ của Toà án Công lý Quốc tế.
Nếu Việt Nam đòi hỏi rằng vùng biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối thiểu, Việt Nam sẽ giảm thiệt hại trong hiện tại và chấp nhận rằng nếu trong tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì lợi ích cũng sẽ giảm.
Tồn tại hai yếu tố trong việc lựa chọn phạm vi tối thiểu hay phạm vi tối đa cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa:
  1. Sự công bằng: Theo ý kiến của các tác giả, phạm vi tối thiểu sẽ phù hợp với tập quán quốc tế hơn, phù hợp với các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế hơn13, và sẽ công bằng hơn, thí dụ như:
    • Không vẽ đường cơ sở thằng xung quanh quần đảo Hoàng Sa;
    • Các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa là những đảo nhỏ, xa bờ và, thêm nữa, trong tình trạng tranh chấp chủ quyền. Để tuân thủ sự công bằng mà UNCLOS quy định, các bên sẽ không trao quy chế vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo thuộc Hoàng Sa.
    • Như vậy, khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ bao gồm lãnh hải 12 hải lý, thí dụ như các vòng tròn nhỏ trong Bản đồ 4.
  2. Lợi ích quốc gia: Việc lựa chọn giữa hai phạm vi trên cũng là sự cân nhắc giữa hai khía cạnh: một mặt là Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa và khống chế vùng biển thuộc Hoàng Sa, một mặt là khả năng Việt Nam giành lại được Hoàng Sa trong tương lai.
Giữa phạm vi tối thiểu và phạm vi tối đa, tồn tại nhiều cách khác để xác định khu vực biển thuộc Hoàng Sa. Bên cạnh tôn trọng sự công bằng, Việt Nam phải cân nhắc phạm vi nào cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ có lợi nhất cho Việt Nam.
Theo những nguyên tắc được Toà án Công lý Quốc tế xác định14, cách tốt nhất để đi tới giải pháp công bằng là vẽ đường trung tuyến giữa các vùng lãnh thổ khác của Việt Nam và các vùng lãnh thổ khác của Trung Quốc, không tính quần đảo Hoàng Sa, để đi tới một ranh giới thử nghiệm cho vùng đặc quyền kinh tế. Sau đó, nếu cần thiết cho sự công bằng, ranh giới thử nghiệm này có thể được điều chỉnh như một cách để cho quần đảo Hoàng Sa một hiệu lực nào đó trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế.
Trên thực tế, Việt Nam không thể chấp nhận việc xê dịch ranh giới thử nghiệm về phía mình, mà Trung Quốc cũng sẽ không chấp nhận việc xê dịch đó về phía họ. Vì vậy, đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa vừa là phạm vi tối thiểu mà Việt Nam có thể chấp nhận cho vùng đặc quyền kinh tế, vừa là phạm vi tối đa mà Việt Nam có thể thực hiện được. Theo ý kiến của các tác giả, giải pháp công bằng tối đa mà Việt Nam có thể thực hiện được là:
  • Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa ;
  • Các đảo Hoàng Sa phía bên kia đường trung tuyến và lãnh hải 12 hải lý của chúng thuộc về Việt Nam.
Tất nhiên Trung Quốc sẽ không chấp nhận rằng Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý thuộc Hoàng Sa là của Việt Nam. Nếu Trung Quốc là nước tôn trọng sự công bằng, họ có thể chấp nhận giải pháp trung gian sau:
  • Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Vì Trung Quốc đã tuyên bố đường cơ sở thẳng và lãnh hải xung quanh Hoàng Sa lấn sang đường trung tuyến, khả năng là Trung Quốc cũng sẽ không chấp nhận rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến. Trong trường hợp này, theo ý kiến của các tác giả, giải pháp tạm thời công bằng là:
  • Hai nước dùng đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời cho vùng đặc quyền kinh tế.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Trong trường hợp Việt Nam và Trung Quốc không giải quyết được sự bất đồng ý kiến, theo ý kiến của các tác giả, giải pháp tạm thời công bằng là:
  • Hai nước dùng đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời cho vùng đặc quyền kinh tế. Ranh giới này sẽ được điều chỉnh lại sau khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và phạm vi khu vực biển thuộc Hoàng Sa được giải quyết.
  • Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Nếu Việt Nam và Trung Quốc có khảo sát hay khai thác chung trước khi chủ quyền được phân định, vùng hợp tác phải nằm vắt ngang đường trung tuyến này một cách đồng đều thì mới công bằng.
Trong bất kỳ trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào trong hiệp định có thể bị cho là chấp nhận yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Cách vẽ đường trung tuyến

Ngay cả trong việc vẽ đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa, có thể tồn tại sự khác biệt ý kiến giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi bên sẽ đòi hỏi cách vẽ đường trung tuyến có lợi nhất cho mình.
Một trong những cách để vẽ đường trung tuyến là vẽ đường trung tuyến giữa đường cơ sở của hai nước. Vì đường cơ sở của Việt Nam vừa nằm xa bờ hơn đường cơ sở của Trung Quốc vừa có thể không phù hợp với UNCLOS, khả năng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận cách này.
Trung Quốc có thể đòi hỏi vẽ đường trung tuyến giữa đường cơ sở của nước này và bờ biển Việt Nam. Vì đường cơ sở của Trung Quốc xung quanh đảo Hải Nam có lấn ra biển ít nhiều, Việt Nam không thể chấp nhận cách này.
Cách vẽ đường trung tuyến công bằng nhất là vẽ đường trung tuyến giữa bờ biển hai nước, không tính Hoàng Sa nhưng tính các đảo gần bờ của mỗi nước. Tuy nhiên, có thể tồn tại sự khác biệt ý kiến ngay cả trong cách thứ ba này.
Nếu mũi Đà Nẵng, mũi Hải Vân, đảo Lý Sơn (diện tích 11 km², dân số 20.000)15, và cù lao Chàm (diện tích 15 km², dân số 3,000)16 của Việt Nam được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến thì đường trung tuyến sẽ như trong Bản đồ 5.
Bản đồ 5: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 100% hiệu lực.
Nếu đảo Lý Sơn và cù lao Chàm chỉ được 50% hiệu lực trong việc vẽ trung tuyến, điều này tương đương với việc “dời” hai đảo này vào bờ 50% khoảng cách trên thực tế, thì đường trung tuyến sẽ như trong Bản đồ 6.
Bản đồ 6: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 50% hiệu lực.
Theo ý kiến của các tác giả,
  • Mũi Đà Nẵng và mũi Hải Vân hoàn toàn đáp ứng những điều kiện để được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến.
  • Đảo Lý Sơn và cù lao Chàm hoàn toàn đáp ứng quy chế đảo theo Điều 121 của UNCLOS và nằm gần bờ Việt Nam. Hai đảo này nên được dùng để vẽ đường trung tuyến, hay phải được ít nhất là 50% hiệu lực. Lưu ý là trong hiệp định Vịnh Bắc Bộ đảo Cồn Cỏ (diện tích 2.5 km², dự kiến là tới năm 2010 sẽ đạt dân số 600)17 được hưởng 50% hiệu lực dù đảo này nhỏ hơn và có dân số thấp hơn đảo Lý Sơn và cù lao Chàm.
Vì vậy, theo ý kiến của các tác giả, trong trường hợp không tính Hoàng Sa, mộ

NỢ CÔNG CỦA CHÍNH PHỦ MỸ: PHẦN NỔI CỦA TẢNG BĂNG CHÌM

TTXVN (Pretoria 11/11)
Theo mạng “Tin Toàn cầu”, nước Mỹ đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng ngân sách trầm trọng. Đạt được thỏa thuận về quy mô, cơ cấu nợ ngân sách là điều cần thiết nhưng không đủ cho nước Mỹ thở phào nhẹ nhõm. Một yếu tố quan trọng là phải nâng được trần nợ công lên trước ngày 17/10 vì nếu không nâng được trần nợ công, doanh thu từ thuế sẽ không đủ để đáp ứng chi tiêu chính phủ. Sự thiếu hụt ngân sách chỉ có thể được đảm bảo bằng các khoản vay mượn mới từ chính phủ, điều đó có nghĩa sẽ làm gia tăng thêm nợ công của chính phủ.
Do đó, vấn đề quy mô nợ, tính toán khoản nợ đó như thế nào và những con số thống kê chính thức của Chính phủ Mỹ có thể tin tưởng được ở mức độ bao nhiêu là điều đáng phải chú ý trong bài phân tích dưới đây.
Nợ Chính phủ Mỹ: Những con số chính thức
Hiện tại, mỗi người dân Mỹ đều biết rằng con số nợ của chính phủ ở mức khoảng 17 nghìn tỷ USD. Theo những gì người dân Mỹ còn nhớ thì con số này thậm chí còn vượt quá tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ (106% GDP theo con số thống kê gần đây). Bộ Tài chính Mỹ có nhiệm vụ theo dõi các khoản nợ của chính phủ đã công bố thông tin về quy mô của gói nợ này trên trang mạng của Bộ Tài chính. Thậm chí thông tin về nợ công còn được cập nhật một tháng một lần. Giá trị nợ của chính phủ cũng được hiển thị thực tế trên Đồng hồ nợ của Mỹ vốn dễ dàng truy cập trên Internet.
Khoản nợ của Chính phủ Mỹ đang được giới truyền thông nói đến là khoản nợ của Chính phủ liên bang hay còn được gọi là nợ quốc gia của Mỹ. Khoản nợ của từng bang, từng công ty, từng cá nhân, thậm chí cả những người được chính phủ bảo đảm cũng như cam kết của chính phủ đối với những người nhận an ninh xã hội trong tương lai không liên quan gì đến khoản nợ của Chính phủ Mỹ. Con số thống kê về nợ công chính phủ thậm chí trở nên ít nhiều đáng tin cậy hơn trong thế kỷ qua. Năm 1910, con số về khoản nợ này vào khoảng 2,65 tỷ USD hay xấp xỉ 8% GDP. Trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 2006, khoản nợ này là 8.500 tỷ USD, chiếm 65% GDP. Trong vòng 7 năm qua, nợ của Chính phủ Mỹ đã tăng lên gấp đôi, tăng từ 65% lên đến 104% GDP. Nói cách khác, Chính phủ Mỹ đang trong tình trạng nợ công tồi tệ hơn bao giờ hết, thậm chí hơn cả thời kỳ trước thềm khủng hoảng tài chính. Nước Mỹ đã không học được gì từ cuộc khủng hoảng này.
Tổng nợ của Mỹ: Những con số chính thức
Nợ của chính phủ chỉ là một phần của khoản nợ chung hay còn gọi là tổng nợ của Mỹ. Các phương tiện truyền thông hiếm khi đưa tin về số liệu chính thức của tổng nợ này. Nợ chính phủ chỉ là một phần trong khoản tổng nợ này bởi vì những con số trên không mấy tin cậy. Đây là lý do chính tạo nên tất cả sai lầm của giới chức Mỹ và các phương tiện truyền thông bởi vì họ đã không cho thấy một bức tranh thực tế của nền kinh tế hàng đầu thế giới. Và hóa ra là bức tranh này chẳng mấy dễ chịu, nó làm gia tăng nghi ngờ về việc liệu Mỹ có thực sự là nền kinh tế hàng đầu thế giới hay không.
Các thành phần chính cấu thành tổng nợ của Mỹ bao gồm: (1) nợ chính phủ; (2) nợ của các chính quyền bang (nợ tiểu bang); (3) nợ của chính quyền địa phương (nợ địa phựơng); (4) nợ của các cá nhân (nợ cá nhân); (5) nợ của các công ty phi tài chính (nợ doanh nghiệp); (6) nợ của các khu vực tài chính trong nền kinh tế (nợ khu vực tài chính).
Một trong những nguồn chính thức công bố về tổng nợ của Mỹ là ấn phẩm định kỳ hàng quý của Hệ thống Ngân hàng Dự trữ liên bang (FRS). Theo số liệu công bố từ nguồn này, vào giữa năm 2013, tổng nợ của Mỹ lên tới mức 41,04 nghìn tỷ USD. Bên cạnh nợ chính phủ thì yếu tố cấu thành lớn nhất trong khoản nợ tổng (lên đến hàng nghìn tỷ USD) là nợ hộ gia đình (gần như tương đương với nợ cá nhân) là 12,97 nghìn tỷ USD; nợ doanh nghiệp là 13,10 nghìn tỷ USD; nợ bang và địa phương là 3,01 nghìn tỷ USD và nợ khu vực tài chính là 13,91 nghìn tỷ USD. Theo con số mà FRS đưa ra, nợ của lĩnh vực tài chính và phi tài chính của nền kinh tế Mỹ lên đến 27 nghìn tỷ USD, chiếm 2/3 tổng nợ của nước Mỹ. Giá trị kết hợp của tổng nợ của Mỹ cao gấp 2,4 lần so với nợ Chính phủ của Mỹ. Tổng nợ của Mỹ (theo con số ước tính của Ngần hàng dự trữ liên bang – FED) tương đương xấp xỉ 250% GDP.
Tổng nợ của Mỹ: Những con số ước tính khác
Những ước tính không chính thức khác về tổng nợ của Mỹ thậm chí còn cao hơn nhiều so với số liệu FRS nêu trên. Đa phần đều ước tính con số này ở mức khoảng 60 đến 70 nghìn tỷ USD trong năm 2013.
Số liệu trên có thể tham khảo trên Đồng hồ nợ của Mỹ. Đây không phải là một món đồ chơi nhiều người nghĩ mà là một sản phẩm thông minh dựa trên phương pháp tính toán nghiêm túc. Ngày 6/10/2013, Đông hồ nợ của Mỹ đã đưa ra con số xác định tổng nợ của Mỹ là khoảng 60 nghìn tỷ USD. Ngoài ra, Đồng hồ này còn đưa ra các yếu tố cấu thành tổng nợ: Nợ chính phủ là 16,97 nghìn tỷ USD; nợ tiểu bang là 1,19 nghìn tỷ USD; nợ địa phương là 1,79 nghìn tỷ USD; nợ cá nhân là 15,87 nghìn tỷ USD. Phần còn lại của tổng nợ vào khoảng 24,18 nghìn tỷ USD, bao gồm nợ của lĩnh vực tài chính và phi tài chính của nền kinh tế. Đồng hồ nợ cũng cho thấy bức tranh chi tiết về nợ cá nhân, bao gồm, nợ thế chấp là 12,92 tỷ USD; nợ cho sinh viên vay là 1,03 tỷ USD; nợ tín dụng là 0,85 tỷ USD. Đồng hồ cũng cung cấp thông tin về mức tổng nợ tương đối của Mỹ tương đương 377% GDP,
Ngoài ra, theo con số ước tính không chính thức về tổng nợ do Khoa Kinh tế trường Đại học California (San Diego) thực hiện theo hướng dẫn của Giáo sư Jemes Hamilton công bố vào tháng 8/2013 thì con số này vào khoảng 70 nghìn tỷ USD. Tổng nợ này cũng bao gồm giao dịch ngoại bảng và nợ ngoại bảng của chính phủ liên bang, của các bang và địa phương. Một ví dụ về giao dịch ngoại bảng có thể là khoản chi tiêu phải trả sử dụng các quỹ đặc biệt (Quỹ ngoài ngân sách). Đây là một định chế tài chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập với mục đích tập trung các nguồn lực để đáp ứng một số nhiệm vụ chi được xác định. Quỹ này tập trung chủ yếu trong lĩnh vực an sinh xã hội, chăm sóc y tế, giao thông, lương hưu… và không được phản ánh trong ngận sách liên bang;bang và địa phương. Tuy nhiên, mức độ phát triển, quy mô và cơ chế quản lý, sử dụng các quỹ tài chính ngoài ngân sách ở từng cấp cũng khác nhau. Nghiên cứu trên của các chuyên gia kinh tế thuộc trường đại học California cũng bao gồm cả chương trình nhà nước khác nhau mà ở đó khoản tài trợ cho các chương trình không được tính trong ngân sách như các nợ ngoại bảng. Mức tổng nợ tương đối theo ước tính của các nhà kinh tế Đại học California là gần 440% GDP.
Nợ xã hội
Tuy nhiên, ngay cả những ước tính của các nhà kinh tế Đại học California cũng chưa đưa ra được bức tranh toàn cảnh về tổng nợ của Mỹ. Các nhà kinh tế và luật sư thường gọi tất cả các loại hình nợ đã nêu ở trên là “nợ thị trường” hay “nợ hợp đồng”… Đây là những loại hình nghĩa vụ tài chính được ghi nhận trong các thỏa thuận, hợp đồng, văn bản luật… Rõ ràng khi nói đến các loại hình nợ này thì hồ sơ tài liệu tỉ mỉ được lựu giữ rất cẩn thận, cac khoản nợ hợp đồng được đánh giá khi cần thiết theo tình hình thị trường (thay đổi tỷ lệ lãi suất, cơ cấu lại thị trường chứng khoán…).
Ngoài ra, còn có những khoản nợ được gọi là “nợ xã hội”. Đó là nhũng cam kết của chính phủ đối với người dân của mình liên quan đến trợ cấp hưu trí, chăm sóc y tế và những lợi ích khác cung cấp cho người dân (như thất nghiệp, hoàn cảnh khó khăn, mẹ nuôi nhiều con…). Hơn nữa, đó không chỉ là những cam kết hiện tại mà phần nhiều là cam kết cho tương lai (những cam kết này thể hiện trong ngân sách và ước tính chi phí của quỹ ngoài ngân sách). Nó cũng bao gồm cả những cam kết đối với thế hệ tương lai thậm chí chưa được sinh ra. Việc đáp ứng được những nghĩa vụ trong tương lai có thể liên quan đến việc tạo ra các quỹ đặc biệt (thuộc ngân sách và quỹ ngoài ngân sách) có tính chất tích lũy.
Hai năm trước, giáo sư Laurence Kotlikoff tại trường Đại học Boston đã cố gắng đánh giá tổng nợ của Mỹ trong bối cảnh nợ xã hội của chính phủ cho các thế hệ tương lai. Phạm vi nghiên cứu của giáo sư Laurence Kotlikoff chỉ giới hạn trong phạm trù kinh tế nhân khẩu học. Kotlikoff đã xây dựng phương pháp phân tích kinh tế của riêng mình (một phép tính nhân khẩu học) dựa trên dự đoán kế hoạch ngân sách nhà nước trong khoảng thời gian tương lai và biến động dân số. Theo kết quả nghiên cứu này, tổng nợ của Chính phủ Mỹ thậm chí vượt mức 220 nghìn tỷ USD (2011). Dường như giáo sư Kotlikoff đã tính cả khoản nợ của chương trình cải cách y tế do Tổng thống Barack Obama khởi xướng. Ngoài nợ xã hội, tính toán của Kotlikoff còn tính gộp cả chi phí quân sự và một số chương trình khác của chính phủ (như hợp đồng và mua bán công của chính phủ). Theo quan điểm của giáo sư Laurence Kotlikoff, nếu Chính phủ Mỹ có trách nhiệm với xã hội và mong muốn thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình trong tương lai gần thì Chính phủ Mỹ cần phải điều chỉnh ngân sách hiện tại theo cách mạnh mẽ nhất có thể. Việc điều chỉnh này chiếm tới 12% GDP (khoảng 1,8 nghìn tỷ USD kể từ năm 2011). Trên thực tế, điều này có nghĩa chính phủ sẽ phải tăng các loại thuế hoặc giảm chi tiêu ngân sách ở mức độ bằng con số trên. Tuy nhiên, cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này. Theo giáo sư Kotlikoff, không chính phủ nào sẵn sàng thực hiện thay đổi đáng kể chính sách tài chính của mình. Và kết luận mà ông đưa ra rất ngắn gọn: “Trên phương diện quan điểm ngân sách của Chính phủ Mỹ như hiện nay, Mỹ hoàn toàn phá sản”.
Công bằng mà nói phương pháp tính toán tổng nợ của Laurence Kotlikoff không phải là duy nhất. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng sử dụng yếu tố nhân khẩu học và nợ xã hội vào trong nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu của Laurence Kotlikoff chỉ đầy đủ hơn, chi tiết hơn và sâu sắc hơn mà thôi. Đúng như dự đoán, cùng với nợ hợp đồng tích lũy, Đồng hồ nợ của Mỹ đã nêu ở trên cũng đưa ra thông số ước tính về nợ xã hội của Mỹ. Theo con số hiển thị trên Đồng hồ nợ Mỹ ngày 6/10/2013, tổng nợ xã hội (của Chính phủ Mỹ) tương đương 126 nghìn tỷ USD. Tổng nợ này bao gồm các khoản sau: nợ chăm sóc y tế: 87,41 nghìn tỷ USD; nợ tiền thuốc: 21,98 nghìn tỷ USD; nợ an sinh xã hội: 16,61 tỷ USD. Rõ ràng Đồng hồ nợ của Mỹ cũng tính cả các khoản nợ lên quan đến cải cách chăm sóc y tế của Chính phủ Mỹ. Đồng hồ nợ của Mỹ cho chúng ta thấy tổng quy mô nợ hợp đồng của Mỹ khoảng ở mức 60 nghìn tỷ USD và khối lượng nợ xã hội khoảng 126 nghìn tỷ USD. Do đó, chúng ta thấy được quy mô toàn bộ khoản nợ của Mỹ là 186 nghìn tỷ USD. Khoản tổng nợ này vượt mức trung bình GDP hàng năm của Mỹ 11,6 lần.
Tóm lại, Quốc hội Mỹ có quyền kiểm soát (hoặc tạo cho người khác ấn tượng về việc có quyền kiểm soát) ngân sách nhà nước chỉ là một phần nhỏ trong tổng nợ của Mỹ. 90% khoản nợ trong tổng nợ của Mỹ không phải do Quốc hội kiểm soát. Thậm chí nhiều nghị sỹ Quốc hội, “đại biểu dân cử của nhân dân”, không hiểu biết hết về quy mô thực sự tổng nợ của Mỹ.
***
Quốc hội Mỹ vừa chấp thuận nâng trần nợ công thêm một lần nữa nhằm cứu vãn nước Mỹ rơi vào tình trạng tê liệt hoàn toàn. Tuy nhiên, liệu có giới hạn nâng trần nợ công hay không? Phải sử dụng những phương pháp gì để sao lưu dự phòng nợ? Và liệu Mỹ có đủ khả năng hoàn nợ? Tạp chí “Toàn cảnh thế giới” có bài phân tích về vấn đề này, nội dung như sau:
Sự dối trá về GDP của Mỹ
Thường gánh nặng về nợ được đo bằng tương quan giữa nợ và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm. Theo con số chính thức của Bộ Tài chính, tại thời điểm này, nợ của Mỹ vào khoảng 106% GDP. Nói cách khác, ngay cả khi người dân Mỹ không sử dụng bất kỳ nhu cầu thiết yếu nào của sự sống (không ăn, không uống, không xây dựng, không lái xe, sưởi ấm, sản xuất vũ khí…) thì Mỹ cũng không thể đủ khả năng trả khoản nợ này trong vòng một năm.
Không giống như nhiều nước khác, cơ cấu GDP của Mỹ bao gồm tổng mức tiêu thụ của mọi lĩnh vực tiêu dùng do nền kinh tế quốc dân tạo ra. Chỉ có những nước tiêu dùng ít hơn sản xuất mới có thể tiết kiệm đủ để chi trả cho các khoản nợ. Rất nhiều nước tiêu biểu cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trên thế giới có các khoản nợ chiếm 20-30% GDP. Họ trang trải nghĩa vụ nợ theo cách duy trì chia sẻ với GDP (trả lãi suất và phần chính của các khoản nợ). Đối với Mỹ, việc duy trì chia sẻ GDP bằng không thậm chí còn ở mức âm và tình trạng này đã diễn ra trong một thời gian dai. Điều này có nghĩa tiêu dùng của Mỹ nhiều hơn sản xuất và việc sống trong nợ nần khiến Mỹ mất uy tín với các quốc gia khác. GDP của Mỹ không đủ để tạo ra khoản dư để trả nợ. Thậm chí ngay cả khi tiết kiệm được từ 20-30% GDP và sử dụng phần còn lại để trả nợ thì nước Mỹ cũng khó có thể tìm ra lối thoát khỏi mê cung nợ nần.
Thứ nhất, nợ quốc nội chỉ là phần nổi của tảng băng chìm hay nói cách khác đó chỉ là một phần trong khối tổng nợ của nước Mỹ. Với các khoản nợ trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế (hộ gia đình, tiểu bang và thành phố, các lĩnh vực tài chính và phi tài chính, trong đó có cả nợ ngoại bảng và nợ phúc lợi xã hội), tổng nợ của Mỹ ít nhất là 100% GDP.
Thứ hai, phần lớn các khoản nợ của Mỹ là nợ bong bóng. Khu vực kinh tế thực chỉ chiếm khoảng 1/5 GDP. Phần còn lại tập trung vào các ngành dịch vụ, hình thức trung gian của tất cả các loại hình kinh tế và tư vấn. Các chính trị gia Mỹ gọi đó là một “xã hội hậu công nghiệp”. Trên thực tế, loại hình này hoàn toàn lừa đảo. Các cơ quan Mỹ chịu trách nhiệm thống kê về các đối tượng lừa đảo tài chính điều khiển và thổi phồng bong bóng số liệu về chứng khoán, bất động sản cũng như các thị trường khác. Những người cho vay (ám chỉ những người kinh doanh nghiêm túc thực sự) hiểu rõ làm thế nào để phân biệt “bong bóng” từ “sự cân bằng thực sự”. Do đó, họ yêu cầu thanh toán bằng những giá trị thực tế chứ không bằng “tiền ảo”. Trên thực tế, thống kê “bong bóng” tồn tại trong chỉ số kinh tế của nhiều nước (nhờ những nỗ lực tích cực của các chuyên gia kinh tế Quỹ Tiên tệ Quốc tế” đã giúp để “hoàn thiện” hệ thống tài chính nội địa). Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế cho thấy số liệu thống kê của Mỹ còn lớn hơn cả những số liệu giả mạo, thổi phồng mà chính họ đã đưa ra. Nếu GDP của Mỹ và Trung Quốc được so sánh không bằng chỉ số trên danh nghĩa mà trên cơ sở các giá trị thực (hàng hóa, các ngành dịch vụ thực tế của nền kinh tế) thì có thể nói rằng Trung Quốc là nền kinh tế hàng đầu trên thế giới từ rất lâu trước đó.
Khi tài sản của nền kinh tế Mỹ là biện pháp hỗ trợ
Những chủ nợ thực sự ưu tiên hàng đầu cho khả năng hỗ trợ chứ không phải khả năng nhận viện trợ để tạo ra dòng tài chính thực hiện trả nghĩa vụ trả nợ. Đó có thể là bảo lãnh của ngân hàng. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, đó là thế chấp tài sản. Mỹ đã chi tiêu hầu như toàn bộ GDP của mình cho các nhu cầu hàng ngày. Vậy liệu Mỹ có còn tài sản để trả nợ không? Tổng giá trị của những gì nền kinh tế Mỹ đã sản xuất ra trong nhiều năm qua cùng với tài nguyên thiên nhiên (một món quà của Chúa), tất cả cộng lại với nhau được gọi là tài sản quốc gia. Không có con số thống kê tài sản quốc gia đáng giá của Mỹ mà chỉ có đánh giá của các chuyên gia. Khoảng 10 năm trước, các chuyên gia thuộc Khoa Kinh tế thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đã tính toán (dựa trên phương pháp tính toán khoa học được Ngân hàng Thế giới sử dụng) để đánh giá tài sản quốc gia của Mỹ (vào năm 2000). Cùng với các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì tài sản quốc gia của Mỹ tương đương ở mức 24 nghìn tỷ USD. Đối với Nga, con số đó cao gấp 2,5 lần (chủ yếu tính về giá trị tài nguyên). Rõ ràng, nếu ước tính theo giá cả những năm gần đây thì con số này có thể còn tăng thêm khoáng 4,5 lần nữa do sự mất giá của đồng USD. Thực tế, con số đó sẽ vào khoảng 100 nghìn tỷ USD, đủ để mua lại cái gọi là phát sinh nợ. Tuy nhiên, nó không đủ để mua lại các khoản nợ, bao gồm cả chi tiêu xã hội dành cho y tế và lương hưu (nợ hợp nhất).
Ngoài ra, còn có những ước tính khác được thể hiện trong một số nghiên cứu của các nhà kinh tế Mỹ về một số yếu tố riêng biệt trong tài sản quốc gia của Mỹ. Ví dụ, năm 2012, một số nghị sỹ Quốc hội Mỹ đã công bố nghiên cứu có tên “Mỹ – một con nợ quốc gia đơn thuần” của tác giá Jemes k.Jackson, chuyên gia thương mại và tài chính quốc tế. Ngày 8/11/2012, cơ quan nghiên cứu của Quốc hội Mỹ đã công bố tài sản của nước này tính bằng nghìn tỷ USD trong năm 2011, như sau:
- Vốn tư nhân cố định: 35,2 nghìn tỷ USD
- Vốn chính phủ cố định: 11,2 nghìn tỷ USD
- Tài sản tài chính: 44,8 nghìn tỷ USD
Khoảng một nửa tài sản trên (47%) là “bong bóng”, giá trị ảo. Tài sản cố định (tài sản chính) là 46,4%. Đây là những ước tính thận trọng nhất về tình trạng nợ của Mỹ. Ngoài ra, không có tài sản để trang trải chi phí cho phúc lợi xã hội.
Đồng hồ hiển thị nợ của Mỹ cho thấy tổng tài sản quốc gia của Mỹ trong tháng 10/2013 ở mức 104,9 nghìn tỷ USD, trong đó bao gồm: doanh nghiệp nhỏ là 8,5 nghìn tỷ USD; các tập đoàn là 20,1 nghìn tỷ USD; hộ gia đình là 76,3 nghìn tỷ USD. Rõ ràng con số trên đã không đề cập đến “bong bóng” trong “tài chính bong bóng” bởi vì đồng hồ nợ đã không phân tách tài sản thực và tài sản tài chính. Theo kết quả nghiên cứu của Giáo sư Laurence Kotlikoff, tổng nợ của Mỹ đã vượt mức 220 nghìn tỷ USD vào năm 2011. Nếu đồng hồ hiển thị nợ công của Mỹ là đúng về tài sản của nền kinh tế Mỹ (bao gồm cả tài sản tài chính) thì nó cũng không đủ để trang trải một phần nợ bong bóng của nước Mỹ.
Liệu Mỹ có thể gánh vác các khoản nợ?
Nợ là khoản tiền đòi hỏi phải trả trong một khoảng thời gian nhất định cho lãi và gốc của một khoản nợ. Không chỉ người Mỹ nói chung mà nhiều chính trị gia Mỹ nói riêng đều rất mơ hồ về khả năng trả nợ quốc gia. Đây không phải là vấn đề phức tạp nhất và hãy cùng tìm hiểu mặt trái của nhận định sau đây: Nước Mỹ có thể chi bao nhiêu để trả nợ quốc gia chính thức? Khoản tiền này được chi trả từ ngân sách nhà nước Mỹ. Năm tài khóa kết thúc vào ngày 30/9. Nước Mỹ đã phải chi 200 tỷ USD để trả lãi suất. Ngân sách liên bang chỉ có 3,5 nghìn tỷ USD thì khoản trả lãi đã chiếm đến 6,2%. Thực tế, đó là một con số khá khiêm tốn, từng có những thời điểm còn tồi tệ hơn trong lịch sử Mỹ. Năm tài khóa 1929/1930, con số trả lãi chiếm đến 21,2% ngân sách. Đại suy thoái đã tác động đến nước Mỹ và chính phủ cố gắng tăng chi ngân sách để cứu vãn nền kinh tế. Chi phí nhà nước không ngừng tăng kéo theo tỷ lệ lãi suất lên cao. Năm tài khóa 1947/1948, chi phí cho lãi suất là 15,7%. Đây là kết quả của tình trạng vay nhà nước đột biến trong thời gian diễn ra Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhìn vào những điều trước đó đang diễn ra tương tự như hiện nay. Chi phí dành cho lãi suất là 454 tỷ USD hay 12,6% ngân sách liên bang. Thế cũng là quá nghiêm trọng. Để so sánh, cùng trong năm tài khóa đó phân bổ ngân sách dành cho quân sự đã ở mức xấp xỉ 18,8%. Tỷ lệ lãi suất phải trả tương đương 2/3 chi tiêu quân sự.
Trong giai đoạn từ năm tài khóa 2010/2011 đến 2012/2013, nợ quốc gia Mỹ đã tăng thêm hàng nghìn tỷ USD trong khi lãi suất phải trả giảm 2,5 lần. Điều này thật đơn giản. Lãi suất của chính phủ đối với các khoản vay của chính phủ giảm xuống bởi vì Ngân hàng Dự trữ liên bang đã điều hành cách thức kiểm, soát gọi là “nới lỏng định lượng”, Nếu lượng cung tiền tăng thì giá trị đồng tiền chắc chắn sẽ bị giảm xuống. Có nhiều lý giải khác nhau về vấn đề nước Mỹ cần phải “nới lỏng định lượng” đề làm gì. Nhìn chung hành động trên tạo cho chính phủ chỉ phải trả lãi suất thấp hoặc bằng không (tỷ lệ lãi suất của Ngân hàng Dự trữ liên bang ở mức 0,25% trong một thời gian dài). Tuy nhiên, việc nới lỏng định lượng không thể kéo dài mãi. Đó là tất cả những gì mà Ben Bernanke, người đứng đầu Ngân hàng Dự trữ liên bang tuyên bố rất nhiều lần. Khi chương trình nới lỏng định lượng kết thúc, lãi suất tăng cao sẽ kéo theo chi phí lên cao. Nhiều chuyên gia giầu kinh nghiệm nhận định trong điều kiện bình thường (không bị tác động bởi điều kiện nới lỏng định lượng), khoản thanh toán lãi suất mà Chính phủ Mỹ phải trả lên đến một nghìn tỷ USD vào năm 2020. Văn phòng ngân sách Quốc hội Mỹ dự báo năm 2021 chi phí lãi suất phải trả sẽ vượt mức chi tiêu quân sự. Chuyên gia của những dự báo này tuyên bố các tính toán của họ đều dựa trên giả thuyết. Khả năng Chính phủ Mỹ bị lâm vào tình trạng trả nợ lãi suất cao vào đầu năm 2020 chắc chắn đến 100%. Khả năng giả định trên xẩy ra là rất cao và hoàn toàn không thể dự đoán được hậu quả của nó tác động thế nào đến xã hội, kinh tế và chính trị.
Tổng chi trả cho lãi suất đã vượt quá giới hạn nợ quốc gia của Mỹ khi các thành phố, tiểu bang, ngân hàng, tập đoàn và hộ gia đình đang có các khoản nợ của riêng mình. Trong những năm qua, -các chuyên gia đã nhiều lần cố gắng ước tính tổng chi phí nợ dịch vụ của Mỹ. Con số gần đây nhất mà họ đưa ra là 2,8 nghìn tỷ USD, tương đương 17,5% GDP của Mỹ. Điều này nhằm ngăn ngừa Mỹ lún sâu thêm vào vũng lầy nợ và Washington cần phải có mức tăng trưởng kinh tế 17,5%. Mỹ không tăng trưởng chút nào từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007. Không cần phải là một nhà tiên tri cũng có thể kết luận rằng: Nước Mỹ đang trong tình trạng vỡ nợ mà không chỉ đối với nợ quốc gia mà còn đối với tất cả các loại hình nợ mà nước này đã tích lũy đến nay.
***
Cũng theo mạng “Tin Toàn cầu ”, một phần trong vở kịch nâng trần nợ công của Mỹ đã kết thúc. Vở kịch này đã được diễn trong nhiều năm qua. Gần ba tuần khủng hoảng ngân sách của Mỹ, có thể đưa đến hậu quả vỡ nợ, là tâm điểm nóng nhất trên phương tiện truyền thông, tập trung vào hai vấn đề chính: (1) Chính phủ Mỹ đóng cửa từ ngày 1/10; (2) Đạt được giới hạn nâng trần nợ công. Vào đêm ngày 16/10, Hạ viện Mỹ mới chấp thuận thỏa thuận ngân sách nhằm tránh để nước Mỹ rơi vào tình trạng “mặc định vỡ nợ” và tái mở cửa hoạt động của các cơ quan chính phủ. Thỏa thuận trên được thông qua với tỷ lệ đồng thuận 144/285. Cùng ngày trước đó, Dự luật trên đã được Thượng viện thông qua.
Vấn đề chính đằng sau kịch bản này là Mỹ có thể và sẽ bị tăng thêm nợ quốc gia. Điều này dường như đã trở nên quá quen thuộc. Người dân Mỹ đã bị nhồi nhét vào đầu tư tưởng quen thuộc rằng không có lựa chọn nào khác ngoài nâng trần nợ công và đây là cách duy nhất để thoát khỏi khủng hoảng tài chính. Họ bị “nhồi sọ” rằng nếu trần nợ công được nâng lên thì chính phủ sẽ được tự do phát hành trái phiếu ở trong và ngoài nước. Số tiền thu được từ bán trái phiếu sẽ dùng để bù đắp vào ngân sách nhà nước. Thậm chí không ai thảo luận về tính động cơ cá nhân trong nâng trần nợ công. Những tranh cãi chủ yếu tập trung vào các vấn đề tiểu tiết kiểu như hạn định của trần nợ mới và đảng Cộng hòa sẽ được gì để đổi lấy sự chấp thuận nâng trần nợ, hay việc nâng, trần nợ phục vụ mục đích gì nếu trần nợ bị hủy bỏ và chính phủ được rảnh tay chi tiêu theo ý thích của mình. Cả hai đảng chủ chốt trên chính trường Mỹ, Dân chủ và Cộng hòa, đều đã đồng thuận nâng trần nợ công. Các ông chủ ngân hàng tại Wall Street và London City đều kêu gọi xem xét giới hạn trần nợ ngay lập tức. Lời kêu gọi của họ cũng được Trung Quốc, Nhật Bản phụ họa. Đây là hai nước đang nắm giữ hơn 2,4 nghìn tỷ USD trái phiếu của Kho bạc Mỹ và lo sợ số trái phiếu này sẽ bị mất giá. Theo các số liệu của Bộ Tài chính Mỹ, Nhật Bản sở hữu 1,135 tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ và Trung Quốc sở hữu 1,277 tỷ USD. Trong các diễn đàn chính thức và gặp gỡ riêng rẽ, Nhật Bản và Trung Quốc đều bầy tỏ sự lo ngại của họ đối với những tác động mà khủng hoảng ngân sách của Mỹ có thể gây ra cho các khoản đầu tư của họ vào trái phiếu của Mỹ và những tổn hại có thể có đối với kinh tế của nước họ. Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Taro Aso đã hối thúc các nhà lãnh đạo chính trị ở Washington giải quyết vụ tranh chấp trước thời hạn chót là ngày 17/10/2013. Thứ trưởng Tài chính Trung Quốc Chu Quang Diệu cũng kêu gọi giới lãnh đạo Mỹ nên rút ra bài học của quá khứ. Ông nhắc lại sự kiện trong vụ tranh chấp lần trước về mức trần nợ vào năm 2011, công ty xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s đã hạ thấp xếp hạng tín dụng của Mỹ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng muốn nâng trần nợ vì cho rằng nếu không hành động như vậy sự phá sản nợ của Chính phủ Mỹ sẽ châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
Trong khi đó, lại có luồng quan điểm ngược lại cho rằng ý tưởng nâng trần nợ là sai lầm, các khoản nợ đã tăng vọt trong những năm gần đây. Đúc kết kinh nghiệm về những diễn biến tương tự từng xẩy ra trước đây, xem xét triển vọng trung và dài hạn, có thể suy ra rằng nền kinh tế Mỹ đang trong tình trạng sụp đổ, Nợ quốc gia được tạo ra từ sự mất cân đối ngân sách liên bang. Nợ quốc gia Mỹ tại bất kỳ thời điểm nào cũng là tổng thặng dư và thâm hụt tích lũy trong quá khứ. Lịch sử đã chứng kiến nhiều lần thâm hụt ngân sách của Mỹ để tạo thặng dư giảm nợ ngân sách nhà nước. Ví dụ, vào cuối những năm 1930 đến những năm 1940, Mỹ đã phải đối mặt với thâm hụt ngân sách liên bang do tăng cường chi phí quân sự. Khoản nợ này liên tục gia tăng, từ mức 16,6% GDP năm 1930 lên 52,2% năm 1940 và đạt mức kỷ lục 121,2% năm 1946. Thặng dư thời kỳ hậu chiến đã tạo điều kiện cho Mỹ giảm dần khoản nợ xuống còn 94% năm 1950, 56% năm 1960 và 37,6% năm 1970.
Vào cuối những năm 1960, nước Mỹ bước vào thời kỳ thâm hụt ngân sách. Tình trạng này được bồi đắp thêm bằng cuộc chiến tranh tại Việt Nam và sự tăng vọt ngân sách dành cho quốc phòng. Khi Ronald Reagan nắm quyền tại Nhà Trắng, nước Mỹ chuyển sang chính sách kinh tế mới với tên gọi “Reaganomics” hay gọi cách khác là “Thuyết kinh tế của Reagan (Chính sách kinh tế của Reagan). Đây được xem là một trong những thuyết kinh tế chủ đạo trong lịch sử phát triển kinh tế của do Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đưa ra. Nội dung chính của học thuyết là kết hợp các biện pháp giảm thuế với chi tiêu mạnh cho quốc phòng. Điều này giúp nền kinh tế tăng trưởng nhưng lại khiến nợ của quốc gia tăng gấp nhiều lần. Theo lập luận của học thuyết “Reaganomics”, một khi giảm thuế, người lao động hoặc nhà đầu tư sẽ có thêm một khoản tiền trong thu nhập của họ và đổ sang chi tiêu, giúp tăng cầu cho sản xuất. Điều này dẫn tới thêm đầu tư và công ăn việc làm. Sản lượng tăng, sức ép lạm phát giảm và tiền tệ lưu thông giúp kiểm soát thâm hụt ngân sách. Và học thuyết này được xây dựng dựa trên tốc độ tăng trưởng nợ của Mỹ.
Một phép tính so sánh đơn giản sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn điều này. Năm 1980, nợ của Mỹ tăng từ 909 USD lên 3.206 tỷ USD vào năm 1990, gấp 3,5 lần. Tốc độ tăng tương ứng từ 33,4% lên đến 55,9% GDP. Một số chuyên gia phân tích đã nghiên cứu kỹ lưỡng và chứng tỏ rằng không có tăng trưởng kinh tế tại thời điểm đó. Số liệu thống kê tăng trưởng GDP chính thức hoàn toàn là con số ma. Các số liệu không ăn nhập gì với tăng trưởng sản xuất và dịch vụ mà chủ yếu là tăng trưởng tiêu dùng. Tất cả hàng hóa và dịch vụ mà Mỹ có đều lấy từ các khoản vay nợ nước ngoài.
Trong vòng 45 năm qua, Mỹ chỉ có 4 lần thặng dư ngân sách, Đó là trong nhiệm kỳ Tổng thống của Clinton năm 1998, 1999, 2000 và 2001. Sau đó, có một thời gian không tăng nợ (mang tính tương đối, không phải tuyệt đối) thậm chí con số nợ còn giảm xuống đôi chút. Ví dụ, năm 2000, tỷ lệ nợ từ 58% đã giảm xuống còn 57,4% trong năm 2001.
Trong hơn 10 năm qua, nước Mỹ đã chứng kiến một bước nhẩy vọt về quy mô tăng nợ. Trong điều kiện tuyệt đối, các khoản nợ đã tăng từ 5,77 nghìn tỷ USD năm 2001 lên đến 15,14 nghìn tỷ USD trong năm 2011, gấp 2,6 lần. Trong điều kiện tương đối, khoản nợ này tăng từ 57,4% lên 100% GDP. Trong nhiệm kỳ của George W. Bush và Barack Obama, nên kinh tế Mỹ đã phóng tay quá đà cho các khoản vay tiêu dùng không phải vì mục đích hữu ích và đã bị thất thoát nhiều cơ hội thúc đẩy phát triển kinh tế. Năm 2001, một số nghị sỹ đảng Cộng hòa đã khẳng định việc nâng trần nợ công lên mức 2,5 nghìn tỷ USD cần phải đặt trong điều kiện giảm tổng chi ngân sách trong toàn bộ thời điểm nâng trần nợ công có hiệu lực, Đó là một điều kiện cần được chính phủ tôn trọng và được đảng Dân chủ chấp nhận. Chính phủ Mỹ không giữ đúng cam kết đã hứa và một lần nữa gây nên tình trạng bế tắc giữa hai đảng trong Quốc hội về nâng trần nợ công trong thời điểm tháng 10 vừa qua.
Một số chuyên gia nhận định không thể giảm hoặc thậm chí đóng băng các khoản nợ của Mỹ thêm nữa. Thâm hụt ngân sách liên bang hàng năm đều vượt mức 1 nghìn tỷ USD. Gần đây, con số này thậm chí tương đương với 1/3 ngân sách liên bang. Điều này có nghĩa cần phải giảm 1/3 ngân sách để cân bằng ngân sách, không cho vay mới bất kỳ khoản vay nào nữa. Những tính toán này của các chuyên gia cho thấy điều này hoàn toàn có thể đạt được. Mục tiêu trên có thể đạt được để không dẫn đến tình trạng “phá sản mặc định”. Đây là một điều đáng tiếc nhưng không còn lựa chọn nào khác để đạt mục đích đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng ngân sách và tài chính từng gây nên tranh cãi kịch liệt không phải trong Quốc hội hay chính phủ mà trong chính giới chuyên gia. Các chuyên gia hoàn toàn hiểu được các phương án mà họ đưa ra: (1) tăng thuế (2) giảm chi tiêu nhà nước; (3) trang trải thâm hụt ngân sách với việc phát hành trái phiếu của Bộ Tài chính.
Đa số các nghị sỹ Mỹ đều có “trí nhớ tồi”. Họ thậm chí không nhớ nổi những bộ luật có hiệu lực trong thời gian gần đây. Trước hết, đó là Luật kiểm soát thâm hụt khẩn cấp và cân bằng ngân sách Gramm-Rudman- Hollings năm 1985 (Luật Gramm-Rudman-Hollings). Nội dung chính của luật này áp dụng hạn chế ràng buộc đối với chi tiêu ngân sách liên bang đến năm 1998. Mức thâm hụt cho phép được tính toán nhằm hướng đến loại bỏ thâm hụt ngân sách liên bang. Nếu ngân sách vượt quá mức thâm hụt cho phép thì tự động bắt buộc phải cắt giảm chi tiêu. Sau đó, luật này đã được sửa đổi bằng Luật Hòa giải ngân sách tổng hợp. Dù Luật Gramm-Rudman- Hollings vẫn có hiệu lực nhưng ngày nay, chẳng hiểu bằng cách nào, không còn nghị sỹ nào nhắc đến đạo luật này. Để chứng tỏ ý chí chính trị, tổng thống và quốc hội không thể đóng băng mức tăng nợ mà còn phải bắt đầu giảm nợ. Đã có quá đủ tiền lệ trong lịch sử nước Mỹ để chứng tỏ quan điểm này. Một trong số đó là sự giảm nợ quốc gia tuyệt đối sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Ngoài ra, còn có ví dụ khác đầy ấn tượng hơn diễn ra vào những năm 1930. Tổng thống Andrew Jackson là người phản đối quyết liệt việc thành lập ngân hàng trung ương của Mỹ. Ông đã đi vào lịch sử là một tổng thống đã đóng cửa ngân hàng trung ương. Ngoài ra, ông cũng đã thực hiện các biện pháp kiên quyết giảm nợ quốc gia về con số không. Ngày nay, tên của ông không được đề cập nhiều lắm tại nước Mỹ. Thực sự thông tin về người anh hùng Mỹ này đã bị phong tỏa mặc dù lịch sử cuộc chiến của ông chống lại các nhà băng có thể lý giải nhiều điều cho người dân Mỹ về những gì đang xẩy ra tại Quốc hội Mỹ trong năm 2013. Giờ đây, đã hoàn toàn rõ ràng tại sao mọi phương án đều ở trên bàn trong khi những phương án khác lại bị loại bỏ khi đề cập đến các cuộc tranh luận về việc tìm cách thoát khỏi khủng hoảng tài chính. Câu trả lời thật đơn giản: Sự thỏa hiệp hòa giải được Quốc hội Mỹ thông qua chỉ là một quyết định dưới áp lực do Ngân hàng dự trữ liên bang đưa ra. Nợ quốc gia chỉ là một công cụ hiệu quả do những ông trùm tài phiệt tài chính thực hiện nhằm kiểm soát tổng thống, chính phủ và các nghị sỹ trong Quốc hội Mỹ.
Nguồn:
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)Thứ Ba, ngày 15/11/2013

CÁC BIỆN PHÁP QUÂN SỰ CỦA MỸ KHI CHUYỂN DỊCH TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG PHÍA ĐÔNG VÀ SÁCH LƯỢC ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

(Tạp chí “ Vòng quanh Đông Nam Á ”, tháng 5/2013)
1. Nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
Trên thực tế, từ sau khi Chiến tranh Lạnh những năm 90 của thế kỷ 20 kết thúc, Mỹ bắt đầu tiến hành bố trí chiến lược ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong thời kỳ Chính quyền Bill Clinton, xu hướng Mỹ chuyển dịch chiến lược sang phía Đông đã bắt đầu xuất hiện.
Tháng 7/1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton cho rằng: “Thời điểm Mỹ cùng với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực này xây dựng ‘Cộng đồng Thái Bình Dương mới’ đã đến. Tháng 11/1993, Tổng thống Bill Clinton lại cho rằng sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, châu Á có lợi ích kinh tế quan trọng đối với Mỹ, vì vậy, sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ sẽ chuyển hướng từ châu Âu sang châu Á, từ ưu tiên an ninh sang ưu tiên kinh tế. Sau sự kiện “11/9” năm 2001, Chính quyền Bush (con) phát động Chiến tranh Afghanistan và Iraq, coi hai quốc gia này là cứ điểm quân sự, tăng cường lực lượng quân sự của Mỹ tại châu Á. Ngay cả khi chính Bush (con) đang tập trung chống khủng bố, nhưng Mỹ vẫn không quên tăng cường bố trí quân sự ở đảo Guam. Mỹ coi trọng các nước đồng minh, tích cực xử lý quan hệ với các nước phi đồng minh ở khu vưc châu Á-Thái Bình Dương, cố gắng chủ đạo toàn diện trật tự chính trị kinh tế và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy, nếu như nói Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, không bằng nói Mỹ chưa từng rời khỏi khu vực châu Á Thái Bình Dương. Và từ khi Chính quyền Obama lên cầm quyền đến nay, Chính phủ Mỹ càng chú trọng việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương Tháng 10/2010, tại Hawaii Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã có bài diễn thuyết về chính sách châu Á của Mỹ, nêu rõ phải chuyển dịch toàn diện trọng điểm về ngoại giao, kinh tế, an ninh quân sự và truyền bá giá trị quan của Mỹ sang châu Á. Ngay từ ngày đầu tiên khi Chính quyền Obama lên cầm quyền đã coi việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông là nhiệm vụ hàng đầu của Mỹ. Chính sách quay trở lại châu Á đại diện cho xu thế bành trướng của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lựa chọn khu vực Đông Nam Á làm khu vực đến thăm đầu tiên của mình. Ngày 18/11/2012, tại Bangkok, Thái Lan, Obama bầy tỏ sau khi đắc cử nhiệm kỳ thứ hai việc Obama đến thăm 3 nước châu Á không có gì là bất ngờ, vì Mỹ chính là và mãi mãi là quốc gia Thái Bình Dương khu vực châu Á-Thái Bình Dương là khu vực tăng trưởng nhanh nhất của kinh tế thế giới, khu vực này rất quan trọng đối với an ninh và phồn vinh của Mỹ trong thế kỷ 21, đóng vai trò then chốt đối với việc tăng thêm việc làm của người dân Mỹ. Việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có đặc điểm nổi bật là lấy “sức mạnh thông minh” làm phương châm chỉ đạo, các biện pháp vận dụng tổng hợp quân sự, chính trị kinh tế, ngoại giao… đều được tiến hành. Như việc Hillary Clinton đưa ra 6 phương châm hành động quan trọng: tăng cường liên minh an ninh song phương, đi sâu quan hệ với các nước mới nổi bao gồm cả Trung Quốc; tham gia các tổ chức đa phương khu vực; mở rộng thương mại và đầu tư; xây dựng nền tảng hiện diện quân sự vững chắc; nâng cao dân chủ và nhân quyền Trong 6 phương châm hành động nêu trên, có 3 phương châm hành động liên quan tới các bước an ninh quân sự. Đúng như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khi đó từng bầy tỏ: “Việc tại khu vực tiền duyên của chúng ta ở châu Á- Thái Bình Dương được bố trí lực lượng quân sự đầy đủ là trọng tâm trong cam kết của chúng ta đối với khu vực này”. Hơn nữa, “Từ lâu nay, Mỹ luôn đi sâu tham gia các công việc của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cho dù là trong thời kỳ chiến tranh hay là thời kỳ hòa bình, cho dù là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa cầm quyền, cho dù Washington chỉ trích hay nhường nhịn nhau, cho dù thặng dư hay thâm hụt tài chính, đều không bao giờ thay đổi. Trước kia chúng ta ở đây, hiện nay ở đây, trong tương lai vẫn sẽ ở đây”. Việc bố trí lực lượng quân sự ở nước ngoài là để ủng hộ chính sách và chiến lược quốc gia của Mỹ, cũng là để bảo đảm việc Mỹ triển khai hợp tác tích cực với các đồng minh và đối tác của Mỹ, và giành lấy sự ủng hộ của các nước này.
2. Các biện pháp quân sự chủ yếu của Mỹ khi chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
“Chiến lược tái cân bằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương” trên lĩnh vực quân sự của Mỹ chủ yếu bao gồm hai mặt liên hệ với nhau, đó là: tái cân bằng về địa lý và tái cân bằng về khả năng quân sự. về địa lý, tái cân bằng chiến lược hao gồm việc điều chỉnh chiến lược khu vực, tư thế quân sự và kết cấu sức mạnh đã tồn tại ở khu vực này của Mỹ, để đối phó với các thách thức và cơ hội xuất hiện ở khu vực này. Về khả năng quân sự, tái cân bằng chiến lược bao gồm sự đầu tư cần thiết đối với các mặt như phần cứng, hệ thống và khoa học kỹ thuật..,từ đó khiến cho quân đội Mỹ có thể bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ, khi phải đối diện với thách thức của sức mạnh quân sự khu vực đang tăng lên nhanh chóng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, củng cố và phát triển quan hệ đồng minh quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ cho rằng mối quan hệ giữa Mỹ với các nước đồng minh và đối tác hợp tác chủ yếu ở châu Á là mấu chốt tăng trưởng và ổn định của khu vực này trong tương lai. Cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton nhấn mạnh lịch sử đã cho thấy một khuôn khổ khu vực lớn mạnh có thể kích thích hợp tác, kiềm chế các hành vi khiêu khích. Khuôn khổ này đòi hỏi cần phải tiếp tục nỗ lực, cần có quan hệ đối tác tiếp tục nỗ lực, vững mạnh, điều quan trọng là vẫn cần có sự lãnh đạo của Mỹ, đây là trọng tâm trong chiến lược châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Tất cả các hành động ngoại giao, kinh tế và quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều nhằm thực hiện mục tiêu này. Hệ thống đồng minh song phương là khởi điểm và cơ sở để Mỹ can dự vào an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tháng 11/2009, trong thời gian đến thăm Nhật Bản, Tổng thống Obama đã có bài phát biểu quan trọng, tỏ rõ chính sách châu Á của Mỹ và thái độ của Mỹ đối với liên minh Mỹ-Nhật, Obama cho rằng: “Từ khi nhậm chức đến nay, tôi luôn nỗ lực khôi phục địa vị chủ đạo của Mỹ ở khu vực châu Á… nhưng thành quả mà Mỹ đạt được ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trên mức độ nhất định thường phải dựa vào quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật lâu dài và bền vững”. Các học giả Mỹ cũng kiến nghị Mỹ phải xây dựng một liên minh quân sự ở châu Á có sức hội tụ lớn hơn, như vậy mới có thể thực hiện được lợi ích chính trị và kinh tế của Mỹ, các nước đồng minh là bàn đạp của Mỹ. Và khi phải đối phó với các thách thức an ninh khó khăn đang phải đối diện ở khu vực này, kết cấu đồng minh là không thể thay thế, Nhưng với tư cách là công cụ của chính sách quốc gia, đồng minh là nhân tố biến động trong quá trình đang thay đổi không ngừng, cần phải điều chỉnh vai trò, sứ mệnh và khả năng để phù hợp với một môi trường quốc tế thay đổi. Chính quyền Obama cũng tiến hành điều chỉnh tương đối đối với hệ thống đồng minh châu Á, lợi dụng mối quan hệ căng thẳng giữa Triều Tiên và Hàn Quốc, tranh chấp đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản để ngăn chặn xu hướng ly tâm của Hàn Quốc và Nhật Bản, tăng cường liên minh quân sự Mỹ-Hàn và Mỹ-Nhật. Tại bán đảo Triều Tiên, Mỹ đã tăng cường hợp tác bảo đảm an ninh với Hàn Quốc, đặc biệt là sau vụ pháo kích đảo Yeonpyeong tháng 11/2010, Triều Tiên phóng vệ tinh tháng 4/2012, Triều Tiên tiến hành thử nghiệm hạt nhân lần thứ 3 tháng 2/2013, Mỹ và Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản tổ chức tập trận quy mô lớn, đồng thời bắt đầu đồn trú quân đội tại Australia.
Thứ hai, mở rộng hợp tác quân sự với Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như Singaoore, Thái Lan… Mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ ngày càng chặt chẽ. Trong 10 năm qua, quân đội Mỹ cũng tập trận với quân đội Ẩn Độ, số lần tập trận hàng năm đều tăng lên, mối liên hệ giữa quân đội hai nước cũng không ngừng mở rộng, trong 10 năm qua, Ấn Độ đã mua hơn 8 tỷ USD trang thiết bị quân sự cửa Mỹ. Mỹ đưa quân đến Australia, bố trí hải quân ở Singapore, triển khai hợp tác quân sự trên các lĩnh vực mới với Philippines, mời Myanmar tham gia tập trận “Hổ mang vàng” giữa Mỹ và Thái Lan trong năm 2013…, ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tầu chiến hải quân, lực lượng lính thủy và lính thủy đánh bộ của Mỹ đã tham gia hơn 170 cuộc tập trận song phương và đa phương, tiến hành hơn 250 chuyến viếng thăm các bến cảng của khu vực này. Lấy các căn cứ quân sự châu Á làm căn cứ hoạt động, lực lượng vũ trang của Mỹ có thể sẽ mở rộng khả năng hoạt động của các lực lượng này đến Ẩn Độ Dương và vịnh Persian.
Thứ ba, lợi dụng tranh chấp lãnh thổ lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước xung quanh, xây dựng vòng cung bao vây Trung Quốc, về vấn đề Biển Đông, Mỹ giữ lập trường thiên vị rõ ràng đối với các nước có tranh chấp với Trung Quốc, tiếp đến can dự vào vấn đề Biển Đông. Mỹ tuyên bố Mỹ là quốc gia Thái Bình Dương, cũng là nước lớn có sự hiện diện lâu dài ở khu vực này việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, bảo đảm luật pháp quốc tế được tôn trọng, bảo vệ tự do hàng hải và thương mại hợp pháp không bị cản trở đều liên quan đến lợi ích quốc gia của Mỹ. Mỹ không ngừng chỉ trích hành vi bảo vệ chủ quyền quốc gia hợp pháp của Trung Quốc, về vấn đề đảo Điếu Ngư tuy Mỹ nhiều lần tuyên bố giữ lập trường trung lập, nhưng việc chủ trương đưa đảo Điếu Ngư vào phạm vi của Hiệp ước bảo đảm an ninh Mỹ-Nhật đã cho thấy Mỹ thiên vị Nhật Bản.
Thứ tư, tăng cường thực lực quân sự của hải quân và không quân, đổi mới quan niệm tác chiến. Từ bề ngoài cho thấy ngân sách quân sự của Mỹ đang cắt giảm, trên thực tế là đang tiến hành tái bố trí khu vực. Về địa lý, tăng thêm số nước có liên hệ quân sự với Mỹ, mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nâng cao khả năng hành động quân sự. Tháng 3/2013, khi diễn thuyết tại Hiệp hội châu Á-Mỹ, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Tom Donilon cho rằng: “Trong vài năm tới, trong lực lượng quân sự của Mỹ sẽ có, một phần tương đối lớn được bố trí ở khu vực Thái Bình Dương. Đến năm 2020, 60% hạm đội hải quân Mỹ sẽ lấy khu vực Thái Bình Dương làm căn cứ. Trong 5 năm tới, không quân của Mỹ cũng sẽ dần dần chuyển trọng tâm đến khu vực Thái Bình Dương. Mỹ đang tăng cường sức mạnh của lực lượng lục quân và lính thủy đánh bộ. Lầu Năm Góc đang hoạch định kế hoạch, ưu tiên bố trí khả năng quân sự hiện đại hóa nhất cho Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, bao gồm tầu ngầm, máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 như F-22 và F-35 và các loại máy bay trinh sát tiên tiến nhất. Hơn nữa, chúng ta đang hợp tác với các nước đồng minh để giành lấy tiến triển nhanh chóng trong việc mở rộng hệ thống rađa và hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, đưa tới sự bảo hộ cho các nước đồng minh của Mỹ và toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.
Đồng thời, Mỹ cũng coi trọng việc đổi mới quan niệm tác chiến, tháng 1/2012, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố “Khái niệm can dự tác chiến liên hợp”, đồng thời đưa ra khái niệm “Tác chiến liên hợp không quân – hải quân”, tìm cách phối hợp và nâng cấp lực lượng không quân và hải quân. Ngoài ra, Mỹ còn đầu tư máy bay tiếp dầu trên không, máy bay ném bom kiểu mới cũng như tầu tuần tra trên biển và máy bay chống tầu ngầm tiên tiến.
3. Phân tích nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông dưới góc độ an ninh quân sự
Từ những thông tin do Bộ Quốc phòng và các kênh chính phủ khác của Mỹ công bố cho thấy nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dich trọng tâm chiến lược sang phía Đông chủ yếu có:
Thứ nhất, nâng cao khả năng lãnh đạo của Mỹ, duy trì địa vị lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và toàn cầu. Ngày 5/1/2012 Mỹ đã công bố Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới nhất “Duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ – Nhiệm vụ ưu tiên của quốc phòng trong thế kỷ 21”. Mục tiêu của Mỹ là trong môi trường an ninh toàn cầu mang tính thách thức phải “duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”, bảo đảm an ninh tuyệt đối, bảo vệ ưu thế tuyệt đối và lợi ích quốc gia của Mỹ. Thể hiện rõ địa vị lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường sự hiện diện tại khu vực tiền duyên của Mỹ ở khu vực này, không cho phép ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương xuất hiện cục diện sức mạnh chính trị, kinh tế, an ninh và quân sự bài xích Mỹ. Thứ hai, bảo vệ lợi ích rộng rãi của Mỹ ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Đại học Quốc phòng Mỹ Jame J. Przystup từng cho rằng lợi ích của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương bao gồm: bảo vệ lãnh thổ của Mỹ, bảo vệ công dân Mỹ; tiến vào thị trường châu Á-Thái Bình Dương. Tại Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Mỹ ủng hộ những nỗ lực nhằm mở rộng và bảo đảm việc thâm nhập thị trường, tăng cường nỗ lực mở rộng thương mại thông qua việc thành lập Khu thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương và ký hiệp định tự do với Australia, Singapore và Hàn Quốc; bảo đảm tự do trên các vùng biển quốc tế; duy trì thế cân bằng, đề phòng bất kỳ một cường quốc và tập đoàn quốc gia nào trỗi dậy gây trở ngại cho sự tham gia về chính trị và kinh tế của Mỹ đối với khu vực này; ngăn chặn sự phổ biến của vũ khí hủy diệt hàng loạt và hệ thống phóng tên lửa đạn đạo; nâng cao dân chủ và nhân quyền. Báo cáo “Duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ – Nhiệm vụ ưu tiên của quốc phòng trong thế kỷ 21” cũng, đã trình bầy về vấn đề này: “Lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển được mở rộng từ Tây Thái Bình Dương và Đông Á đến khu vực Ấn Độ Dương và Nam Á, sự phát triển này tạo ra sự thay đổi không ngừng giữa thách thức và cơ hội. Vì vậy, cho dù quân đội Mỹ tiếp tục thúc đẩy an ninh toàn cầu, nhưng Mỹ vẫn phải tái điều chỉnh đối với chiến lược khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mối quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh và đối tác hợp tác chủ yếu ở châu Á là điều then chốt quyết định sự tăng trưởng và ổn định của khu vực này trong tương lai. Các đồng minh hiện nay của Mỹ đã đặt nền tảng quan trọng cho an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ cũng sẽ mở rộng mạng lưới quan hệ hợp tác với các đối tác mới nổi của toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược với Ấn Độ, để ủng hộ Ấn Độ với tư cách là nước dẫn đầu kinh tế trong khu vực, và tạo ra môi trường an ninh rộng rãi hơn ở khu vực Ấn Độ Dương”. Từ Ấn Độ Đương đến khu vực ven biển phía Tây nước Mỹ, cư trú một nửa dân số thế giới, có các đồng minh quan trọng của Mỹ, có các nước lớn kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, còn có nhiều tuyến đường vận tải năng lượng và thương mại sôi động nhất trên thế giới. Lượng hàng hóa chuyên chở thông qua Biển Đông chiếm tới một nửa lượng hàng hóa thế giới. Thứ ba, tuyên truyền “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, tìm kiếm lý do và tạo cớ cho việc Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương bằng quân sự. Thứ tư, chuyển đổi phương hướng và phương châm chiến lược quân sự của Mỹ. Chính quyền Obama đã thay đổi chính sách chống khủng bố từ chủ yếu sử dụng vũ lực trong thời kỳ Chính quyền Bush (con), chuyển sang rút quân khỏi Iraq, tăng thêm quân đội cho Afghanistan, tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á, thực hiện coi trọng cả Trung Đông và Đông Á trong địa vị chiến lược quân sự của Mỹ. Từ phương châm chiến lược cho thấy Mỹ đã rút được bài học chống khủng bố ở Iraq, thay đổi chiến thuật biển người, chuyển sang nhấn mạnh tầm quan trọng về vai trò của biển đối với Mỹ, nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của hải quân đối với Mỹ, hoạch định kế hoạch tác chiến liên hợp không quân và hải quân. Và khu vực châu Á-Thái Bình Dương chính là khu vực mà Mỹ quan tâm nhất đến việc kết hợp tác chiến giữa không quân và hải quân. Từ góc độ khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho thấy khu vực này có các đối tác đồng minh quân sự quan trọng nhất của Mỹ, lại có Trung Quốc và Nga là hai đối thủ cạnh tranh tiềm tàng chủ yếu nhất của Mỹ, vừa có vấn đề do Chiến tranh Lạnh để lại, vừa có rất nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống.
4. Kiến nghịsách lược đối phó của Trung Quốc đối với biện pháp quân sự của Mỹkhi chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
Mỹ vẫn duy trì tư duy Chiến tranh Lạnh, không ngừng tăng cường hệ thống đồng minh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương của mình, việc Mỹ duy trì mức độ căng thẳng vừa phải ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là ở tình hình khu vực xung quanh Trung Quốc có thể tạo ra cái cớ cho Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông. Từ ý nghĩa này cho thấy việc Mỹ dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông chắc chắn sẽ là nhân tố tiêu cực trong phát triển an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và việc Mỹ không ngừng bố trí lực lượng ở khu vực xung quanh Trung Quốc trở thành biến số lớn nhất gây ảnh hưởng đến an ninh xung quanh Trung Quốc. Để bảo vệ hòa bình, ổn định và phát triển xung quanh Trung Quốc và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, kiến nghị Trung Quốc phải áp dụng các biện pháp tích cực để đối phó.
(1). Kiến nghị dựa theo chiến lược phát triển biển quốc gia được đề xuất trong báo cáo Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, ra sức thúc đẩy công cuộc xây dựng cường quốc biển
Báo cáo Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra chiến lược phát triển biển quốc gia “nâng cao khả năng khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển quốc gia, xây dựng cường quốc biển”, vạch rõ phương hướng tiên tiến cho công cuộc phát triển và xây dựng biển của Trung Quốc. Trên thực tế, Trung Quốc muốn trở thành cường quốc thế giới chắc chắn phải hướng ra biển. Từ lịch sử cho thấy sự trỗi dậy của các nước lớn đều gắn liền với biển. Việc Mỹ thực hiện chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông cũng dựa trên tầm quan trọng của biển đối với Mỹ. Biển có ý nghĩa chiến lược đặc biệt đối với Trung Quốc đang trỗi dậy. Với tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc không tránh khỏi phải phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên. Và gần một nửa lượng dầu mỏ hàng năm của Trung Quốc, trên 80% thương mại quốc tế phụ thuộc vào tuyến đường vận tải trên biển đi qua eo biển Malacca. Trung Quốc tồn tại bất đồng về chủ quyền một số đảo và phân định vùng biển với một vài nước, cũng khiến cho sự quan tâm của các giới ở Trung Quốc đối với biển không ngừng tăng lên, cũng đưa tới cơ hội cho công chúng Trung Quốc nâng cao ý thức biển, kết hợp chặt chẽ giữa việc phát triển kinh tế biển; bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển quốc gia với các biện pháp bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, phối hợp hành động bảo vệ quyền lợi biển giữa chính phủ với nhân dân; kết hợp việc phát triển thực lực hải quân với bảo vệ lợi ích an ninh chủ quyền và lợi ích tại nước ngoài của Trung Quốc.
(2). Kiến nghị hoạch định mô hình ngoại giao xung quanh “Thái độ chủ động, can thiệp trước, có thể kiểm soát toàn bộ quá trình, có lợi cho Trung Quốc, cùng có lợi cùng thắng lợi”
Giảm thiểu việc nẩy sinh những vấn đề làm cho tình hình phức tạp thêm, đưa tới ảnh hưởng bất lợi, do không can thiệp trước hoặc mức độ can thiệp không đủ gây nên. Coi trọng việc áp dụng biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao và chiến lược để bảo vệ ổn định an ninh xung quanh. Đối với vấn đề đảo Điếu Ngư, phải không ngừng củng cố những thành quả đã giành được, liên kết hai bờ eo biển Đài Loan, cùng bảo vệ chủ quyền quốc gia. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực thi chiến lược phát triển biển với việc giải quyết vấn đề Biển Đông.
(3). Tiếp tục thực hiện phương châm “coi láng giềng là bạn, thân thiện với láng giềng”
Đông Á là một khu vực chủ yếu khi Trung Quốc trỗi dậy, môi trường xung quanh ổn định hài hòa rất quan trọng đối với sự phát triển hòa bình của Trung Quốc. Giải quyết ổn thỏa tranh chấp lãnh thổ lãnh hải với các nước xung quanh, củng cố láng giềng hữu nghị, đi sâu hợp tác cùng có lợi, nỗ lực khiến cho sự phát triển của Trung Quốc đem đến nhiêu điều tốt lành hơn cho các nước xung quanh, thực hiện mục tiêu “láng giềng giầu có, láng giềng an ninh, láng giềng thân thiện”.
(4). Kiến nghị tích cực thúc đẩy việc phát triển lành mạnh và thuận lợi quan hệ Trung-Mỹ
Việc Mỹ dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông quả thực đã tạo nên sức ép và mối đe dọa nhất định cho Trung Quốc, nhưng suy cho cùng quan hệ Trung-Mỹ lại không giống với quan hệ Mỹ-Nga trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, sự phụ thuộc lẫn nhau trên lĩnh vực kinh tế, an ninh và chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ khiến cho quan hệ Trung-Mỹ xuất hiện cục diện cạnh tranh và hợp tác cùng tồn tại; trong một thời kỳ nhất định, sự cạnh tranh, thậm chí đối kháng giữa Trung Quốc và Mỹ trên một số lĩnh vực không thể làm mất đi hợp tác giữa hai nước. Sự mở rộng của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng tăng thêm cơ hội trao đổi hiểu biết giữa Trung Quốc và Mỹ, điều hòa lập trường giải quyết tranh chấp giữa hai bên, đưa tới cơ hội cho việc thúc đẩy trật tự khu vực và thế giới phát triển theo hướng công bằng hợp lý. Vì vậy, Trung Quốc phải coi trọng vai trò của các cơ chế đối thoại Trung-Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường đối thoại an ninh chiến lược mới, thực hiện trao đổi lành mạnh giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, xây dựng quan hệ với các nước lớn mới nổi.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Chủ Nhật, ngày 17/11/2013