Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Báo chí thế giới tiếp tục ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Các nhà báo gọi ông là “ngọn núi lửa dưới lớp tuyết trắng”.
Báo chí thế giới tiếp tục đăng tải những tin bài ảnh ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó khẳng định sự ra đi của Đại tướng là một mất mát lớn lao không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà cả với hàng triệu triệu người ngưỡng mộ ông trên thế giới.
Các phương tiện truyền thông Cuba đồng loạt đưa tin về việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời ở tuổi 102 tại Hà Nội, đồng thời đăng tải những chùm ảnh tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của vị tướng được coi là "Người anh cả" của quân đội nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, người "không bao giờ rút lui"
Báo Gramma của đảng Cộng sản Cuba đã công bố những hình ảnh tư liệu quí báu về cuộc đời của Đại tướng và các cuộc gặp gỡ lịch sử của ông với lãnh tụ Fidel Castro và Chủ tịch Raul Castro.
Tờ báo cũng ca ngợi Người không chỉ là bậc thầy về nghệ thuật chiến tranh cách mạng mà còn là một nhà văn tài hoa đã viết nhiều cuốn sách quan trọng nghi lại những kinh nghiệm quân sự của mình.
Trong khi đó, tờ Juvendud Rebelde ca ngợi vị Tư lệnh tối cao Quân đội Nhân dân Việt Nam là một trong những vị chỉ huy quân sự vĩ đại nhất mọi thời đại, với chiến lược “không bao giờ rút lui”.
Tờ báo cũng trích dẫn phát biểu của nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam, tướng William Westmoreland khẳng định: “Những phẩm chất làm nên một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại là khả năng đưa ra quyết định, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung và một trí tuệ hội tụ được những phẩm chất này. Tướng Giáp đã sở hữu tất cả”.
Cùng ngày, báo Le Nouvel Observateur của Pháp đăng bài viết của cựu Đại sứ Pháp tại Việt Nam Claude Blachemaisong, người từng nhiều lần được trực tiếp gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ông Blachemaisong đã kể lại những kỷ niệm với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người mà ông gọi là “Người chiến thắng tại Điện Biên Phủ”. Gặp Đại tướng lần đầu tiên vào tháng 4/1989 tại Nhà khách chính phủ ở thủ đô Hà Nội, khi vừa tới Việt Nam nhậm chức, ông Blachemaisong vẫn ấn tượng với hình ảnh một vị đại tướng uyên bác, giản dị, mà gần gũi.
Bài báo có đoạn viết: “Với một chút e dè, tôi đã đến gặp ông theo một lịch hẹn đã được ấn định trước, vừa ngẫm nghĩ lại tất cả những gì mà tôi đã đọc được trước đây về nhân vật kiệt xuất này. Và người đang tiến đến gặp tôi đã khiến tôi ngạc nhiên vì ông có dáng người thấp nhưng đôi mắt sáng và vầng trán rộng nổi bật dưới mái tóc bạc trắng, “ngọn núi lửa dưới lớp tuyết trắng”, như các phóng viên vẫn thường gọi ông. Ông mặc bộ quân phục kaki màu xanh ô liu”.
Ông Blachemaisong cũng đã gửi cho nhà in bản thảo quyển sách của ông có tựa đề “Hành khúc La Mác-xây-e của tướng Giáp” (La Marseillaise du général Giap). Sách sẽ được bán vào ngày 10/10 tới.
Tờ Washington Post ngày 5/10 cũng dành 5 trang để viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Bài báo ca ngợi tư duy chiến lược quân sự của ông, đặc biệt là nghệ thuật tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân.
Bài báo có đoạn viết: “Với các học giả quân sự khắp thế giới, ông là một trong những nhà chiến lược hàng đầu trong việc áp dụng nghệ thuật chiến tranh du kích hiện đại. Suốt gần ba thập kỷ, tướng Giáp đã lãnh đạo quân giải phóng trong cuộc chiến với những kẻ thù hùng mạnh và được trang bị vũ khí hiện đại hơn nhiều. Đối với hàng triệu người Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ đơn thuần là thắng lợi quân sự. Nó còn là chiến thắng về tâm lý và tinh thần đối với một nước đế quốc đã áp bức họ trong vài chục năm. Chiến thắng ấy cũng khiến tên tuổi của tướng Giáp trở thành một huyền thoại”./.

Tướng Giáp đại diện cho "Ý chí Việt Nam, văn hóa Việt Nam"

VOV.VN - Luật sư Mỹ Laurence Brahm nói rằng, thế giới đã mất đi một vị anh hùng.
Trong con mắt của các học giả nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là vị tướng huyền thoại khi chỉ huy những đội quân”chân đất” đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới là Pháp và Mỹ, mà sự ẩn sâu bên trong con người Đại tướng một triết lý về hòa bình, một ý chí, cốt cách văn hóa con người Việt Nam là điều mà các học giả quan tâm.

Phóng viên VOV phỏng vấn ông Laurence

Ông Laurence Brahm - Luật sư người Mỹ, Nhà kinh tế chính trị học chuyên nghiên cứu về Châu Á cho biết, ông đã chọn nghiên cứu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp như là điểm tiếp cận quan trọng để hiểu về Việt Nam, là yếu tố giúp ông có nhiệm kỳ công tác thành công trên cương vị là cố vấn cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam-một lĩnh vực dường như không liên quan gì đến văn hóa, lịch sử, mà là lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Sau nhiều năm nghiên cứu, ông Laurence vừa viết xong và dự kiến sẽ cho xuất bản trong thời gian tới một cuốn sách về Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên gọi "Ý chí Việt Nam, văn hóa Việt Nam" .

Ông Laurence hiện đang làm việc tại Trung Quốc. Phóng viên Đài TNVN thường trú tại Bắc Kinh đã có cuộc trò chuyện với ông.
PV: Là người ngưỡng mộ và từng dày công nghiên cứu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cảm xúc của ông thế nào khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời?.
Ông Laurance: Tôi cảm thấy thật bàng hoàng, khi nghe tin thông báo từ một người bạn ở Đại sứ quán Việt Nam. Tôi rất buồn và tôi muốn chia sẻ cảm xúc này này đến người dân Việt Nam.

Người dân Việt Nam mất đi một nhà lãnh đạo và thế giới cũng mất đi một vị anh hùng, đã đi vào lịch sử thế giới.
Tôi cho rằng, chỉ có vài người trên thế giới với những cống hiến của mình về trí tuệ và chiến lược cần phải được đặc biệt ghi nhận. Và tướng Giáp là người đã làm biến đổi lịch sử bằng chiến lược của mình chứ không phải chỉ bằng sức mạnh quân sự.
Do vậy tôi cảm thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời là tổn thất lớn vì ông chính là thiên tài lãnh đạo. Tôi muốn được chia sẻ những cảm xúc tiếc thương ông với người dân Việt Nam.
PV: Điều gì khiến ông muốn viết cuốn sách về Đại tướng Võ Nguyên Giáp?
Ông Laurence: Tôi đã làm cố vấn cho nhiều Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tôi tự hỏi rằng là một người nước ngoài làm thế nào có thể cố vấn về Việt Nam. Để làm được điều đó tôi phải bắt đầu như thế nào.
Qúa trình nghiên cứu đã cho tôi thấy, Võ Nguyên Giáp phải là một người hiểu sâu sắc tâm lí của người Việt Nam để có thể vận động và kêu gọi họ tiến hành cuộc chiến tranh thần thánh, chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh trên thế giới như Mỹ- Pháp. Do đó tôi phải hiểu Việt Nam bằng cách tìm hiểu về ông Võ Nguyên Giáp.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một người đã truyền khát vọng cho bất cứ người dân nào tại châu Á. Ông dạy chúng ta hiểu được tầm quan trọng của độc lập, khát vọng có độc lập và làm thế nào để có độc lập cho riêng mình.
Ông đã truyền cảm hứng đó cho người dân Việt Nam, giúp họ vượt qua những thách thức chiến thắng kẻ thù. Đó là một tinh thần mà bất kì thời đại nào chúng ta cần có, không chỉ trong chiến tranh mà còn trong các vấn đề kinh tế, tài chính toàn cầu hiện nay.
PV: Trong quá trình nghiên cứu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, điều gì để lại cho ông ấn tượng sâu đậm nhất ?.
Ông Laurence: Điều tôi ấn tượng nhất về Đại tướng Võ Nguyên Giáp là sự hiểu biết của ông. Ông không chỉ là một vị tướng mà còn là một nhà lịch sử. Ông hiểu về lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, vùng đất cũng như con người Việt Nam. Ông áp dụng những hiểu biết lịch sử này vào công việc.
Tại sao tôi lại nói như vậy, chúng ta hãy nói về sách lược. Một người chỉ huy khi đưa ra sách lược không chỉ dựa vào những lí thuyết về lịch sử, tài chính ...mà chúng ta phải hiểu về con người, vùng đất cũng như truyền cảm hứng cho người dân nơi đây. Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu được điều này và áp dụng rất thành công. Ông không những là vị tướng tài ba mà còn là một nhà tâm lí giỏi.
PV: Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, Thượng nghị sỹ John McCain –một người lính Mỹ từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam đã bày tỏ cảm xúc và thể hiện sự kính trọng đối với Đại tướng qua trang blog cá nhân của mình. Ông có thể cho biết người Mỹ nói chung có cái nhìn như thế nào về Đại tướng Võ Nguyên Giáp?

Ông Laurence: Tôi nghĩ có nhiều góc cạnh khác nhau mà người Mỹ muốn hiểu thêm về tướng Giáp. Trước hết, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, khi người Mỹ tham chiến, họ không biết làm thế nào để chiến thắng.
Rồi sau đó, họ không thể hiểu nổi tại sao một đất nước lạc hậu về kinh tế lại có thể đánh thắng một nước công nghiệp hùng mạnh như Mỹ vào thời điểm đó. Chiến thuật đánh du kích, trí thông minh của người Việt Nam đã làm nên chiến thắng và người Mỹ đã hiểu ra điều đó.
Hàng chục năm sau, khi các cựu chiến binh và nhiều người Mỹ nhìn lại cuộc chiến, họ đã ngưỡng mộ, khâm phục không chỉ đối với tướng Giáp mà người dân Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước và bây giờ là công cuộc xây dựng nền kinh tế ngày càng thịnh vượng, một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Nhiều cựu chiến binh mà tôi biết muốn quay trở lại Việt Nam. Điều này có vẻ như không bình thường. Những người tham gia cuộc chiến thường không muốn quay trở lại nơi họ từng chứng kiến hoặc bản thân phải gánh chịu những nỗi đau vì không ai muốn nhớ đến sự khổ đau. Nhưng các cựu chiến binh đó muốn trở lại.
Đây cũng là điều mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề cập trong một tác phẩm của ông về chiến lược quân sự và cũng chính tinh thần của người dân Việt Nam đã khích lệ các cựu chiến binh quay trở lại Việt Nam.
Tôi nghĩ đây cũng là thời điểm mà Việt Nam và Mỹ bỏ qua quá khứ đau thương để tiến tới một kỉ nguyên mới. Tôi đã từng đọc bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ những nguyện vọng của người dân Việt Nam cũng giống người dân Mỹ những năm 1776. Do đó chúng ta hãy gạt bỏ quá khứ, hướng đến những kỷ nguyên hợp tác kinh tế chính trị tốt đẹp hơn.
PV: Xin cảm ơn ông./.

Những câu nói bất hủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trong cuộc đời cầm quân và giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh lớn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại nhiều câu nói bất hủ.

 
[Caption]Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại nhiều câu nói bất hủ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại nhiều câu nói bất hủ. Ảnh: DPA
Cuối năm 1946, khi cuộc chiến tranh với thực dân Pháp là không thể tránh khỏi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi Võ Nguyên Giáp, tân Bộ trưởng Quốc phòng (thay thế luật sư Phan Anh), người cũng được Chủ tịch nước ủy quyền làm Tổng chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ: "Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?". Bộ trưởng Giáp đã tự tin trả lời: "Có thể giữ được một tháng!".
Với nỗ lực của trung đoàn thủ đô và các lực lượng tự vệ và nhân dân Hà Nội, quân đội Việt Nam non trẻ đã cầm chân được quân đội Pháp tới hai tháng tại thủ đô, trước khi bí mật rút khỏi thành phố để bước vào cuộc kháng chiến kéo dài tới 9 năm.
Năm 1950, trước khi mở chiến dịch Biên giới, Võ Nguyên Giáp, khi đó đã mang quân hàm Đại tướng, đã cân nhắc việc có chọn đột phá khẩu là thị xã Cao Bằng hay không. Ông viết trong hồi ký: "Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê".
Sau khi quân đội Việt Nam đánh Đông Khê, quân Pháp từ Cao Bằng và Lạng Sơn kéo sang phản công cũng đã bị đánh bại. Hai binh đoàn Le Page và Charton bị tiêu diệt hoàn toàn, toàn bộ tuyến biên giới Việt Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập được giải phóng. Việt Nam dân chủ cộng hòa mở được cánh cửa giao lưu với các nước khối xã hội chủ nghĩa, từ đó nhận được những sự giúp đỡ to lớn để tạo dẫn tới chiến thắng Điện Biên 4 năm sau đó.
Trong chiến dịch Điện Biên, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã có một quyết định cực kỳ quan trọng, dẫn đến chiến thắng hoàn toàn cho quân đội Việt Nam, là chuyển từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc".
Sau nhiều đêm thức trắng trăn trở, tại cuộc trao đổi với trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc Vi Quốc Thanh sáng 26/1/1954, đúng ngày dự kiến mở màn chiến dịch, Tướng Giáp đã nói: "Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc'".
Sau khi nhận được sự đồng thuận của ông Vi Quốc Thanh, tại Hội nghị Đảng ủy mặt trận diễn ra sau đó, Tướng Giáp đã có câu kết luận lịch sử:
"Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là đánh chắc thắng, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới".
Về sau, trong hồi ức "Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử”, tướng Giáp đã thổ lộ: "Ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình!".
Đánh giá về quyết định lịch sử này, tướng Lê Trọng Tấn, trong dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên, nói: "Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ". Còn tướng Vương Thừa Vũ nhận xét: "Nếu theo cách đánh cũ, thì cuộc kháng chiến chống Pháp có thể bị kéo dài thêm tới 10 năm".
Đánh thắng thực dân Pháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng quân đội của ông không được nghỉ ngơi lâu, mà phải tiếp tục bắt tay vào cuộc chiến đấu với quân đội Mỹ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán khi tướng Giáp đến Việt Bắc báo cáo về chiến thắng Điện Biên.
Năm 1972, trong một chiến thắng vang đội khác của quân đội Việt Nam trước cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của quân đội Mỹ vào Hà Nội, được ví như một trận "Điện Biên Phủ trên không", tướng Giáp đã có chỉ thị nổi tiếng tới các đơn vị phòng không Hà Nội: "Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội".
Sau khi quân đội của tướng Giáp giành chiến thắng trên bầu trời Hà Nội, Mỹ đã phải ký hiệp định Paris, rút quân khỏi Việt Nam, tạo tiền đề cho những chiến thắng sau đó của tướng Giáp.
Trong những ngày cuối cuộc kháng chiến thứ hai của mình, Tướng Giáp đã cho đánh đi bức điện lịch sử gửi các đơn vị tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam, sáng 7/4/1975: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!"
Kết thúc hai cuộc chiến tranh, khi nhìn nhận lại về cuộc chiến chống Pháp và đối thủ của mình là tướng Navarre, tướng Giáp đã nói với nhà báo, đạo diễn người Pháp Daniel Roussel: "Navarre là một tướng có tài, thua trận không phải là lỗi của ông ta, mà là lỗi của những người bắt đầu cuộc chiến".
Trong cuộc gặp đầu tiên với đối thủ người Mỹ, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1995, tướng Giáp cũng có rất nhiều câu nói rất đáng nhớ như: "Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam", "Chúng tôi biết là chúng tôi sẽ thắng ngay từ ngày đầu tiên”, hay "Từ 'lo sợ' không có trong tư duy quân sự của chúng tôi".
Đáp lại những lời ca tụng của báo chí phương Tây, ông nói: "Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình".
Nhận định về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã trao cho mình cấp hàm Đại tướng và quyền Tổng chỉ huy quân đội, trong hồi ký của mình, Tướng Giáp đã viết: "Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử".
Là một nhà quân sự, nhà giáo, nhà sử học, tướng Giáp luôn quan tâm đến lịch sử và thế hệ trẻ. Phát biểu tại Hội nghị Ban chấp hành Hội khoa học lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 3, khóa III năm 1996 với tư cách Chủ tịch danh dự hội, ông trăn trở: "Tôi vẫn còn có điều băn khoăn và hơn thế nữa là sự lo lắng, đó là vì sao kiến thức lịch sử lại không phổ biến sâu rộng được trong quảng đại quần chúng, như là giới trẻ?".
Nói về nghiệp cầm quân của mình, Tướng Giáp thổ lộ: "Hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân là được ở bên chiến sĩ trên chiến trường".
Là một vị tướng trọn đời vì đất nước, vì nhân dân, khi được chúc mừng nhân dịp bước sang tuổi 100, tướng Giáp nói: "Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó".
Tiên Long

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hồ Chủ tịch

Trước nhiều thời điểm lịch sử của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn bạc để đưa ra những quyết định trọng đại.
Untitled-1-4005-1380944910.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong ngày 2/9/1945. Bức ảnh được chụp ngay sau khi Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. "Đúng lúc cụ Hồ và ông Giáp đã ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh, tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: Thưa cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh cụ. Xin cụ cho phép con được lấy một hình của cụ. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy, cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã về chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều: Thưa cụ, con muốn cụ hạ chiếc mũ xuống ạ. Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: Này thì bỏ mũ xuống", nhiếp ảnh gia Võ An Ninh kể lại trong cuốn "Ở với Người - Ở với Đời".
Untitled-10-1501-1380944910.jpg
Theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đã nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7/1945 để giúp đỡ huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật. Cụ Hồ và Tướng Giáp chụp chung với nhóm tình báo đặc biệt này.
Bác Hồ và Tướng Võ Nguyên Giáp tại vườn Bắc Bộ phủ cuối tháng 8/1945.
Cụ Hồ và Tướng Giáp tại vườn Bắc Bộ phủ cuối tháng 8/1945.
Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945.
Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp (đầu tiên, hàng trước) trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945.
Bữa cơm tại chân đèo Re (phía Định Hóa, Thái Nguyên tháng 10/1948) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lê Đức Thọ, trước ngày ông Lê Đức Thọ được cử vào Nam Bộ công tác
Tổng Bí thư Trường Chinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Lê Đức Thọ ăn cơm tại chân đèo Re phía Định Hóa, Thái Nguyên vào tháng 10/1948.
Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa.
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại An toàn khu Định Hóa năm 1947.
Trên đường đi Chiến dịch Biên giới, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh (1950).
Trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Untitled-8-2272-1380944910.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp bàn bạc kế hoạch chiến dịch năm 1950.
Tại căn cứ Việt Bắc, Người và các đồng chí lãnh đạo Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1953.
Tại căn cứ Việt Bắc, Hồ Chủ tịch, Tướng Giáp và lãnh đạo Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ vào năm 1953.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn kế hoạch tác chiến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Trước khi đại tướng lên đường, Chủ tịch  hỏi: "Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?", đại tướng  trả lời: "Thưa bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tướng quân tại  ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau". Khi chia tay, Chủ tịch chỉ thị: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh".
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trước khi Đại tướng lên đường, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: "Chú đi xa như vậy chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?", Đại tướng trả lời: "Thưa Bác! Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau". Khi chia tay, Chủ tịch chỉ thị: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh".
Điện Biên mừng sinh nhật Bác (19/5/1954).
Tướng Giáp cùng các chiến sĩ Điện Biên mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm 19/5/1954.
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962
Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp ảnh chung trong dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962.
Untitled-2-4074-1380944911.jpg
Ngày 11/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (thứ hai từ bên phải) gặp đoàn đại biểu Anh hùng Chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang quân Giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc.
Tháng 4-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tiếp các chiến sĩ lái máy bay chiến đấu đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ
Tháng 4/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tướng Giáp tiếp các chiến sĩ lái máy bay chiến đấu đã bắn rơi nhiều phi cơ Mỹ.
Ảnh tư liệu của TTXVN

KẾ HOẠCH NGA-MỸ LÀM THAY ĐỔI “CUỘC CHƠI” TẠI SYRIA

TTXVN (Pretoria 27/9)
Đ xut ngoại giao của Nga để chuyn giao các kho vũ khí hóa học của Syria nằm dưới sự kiểm soát của cộng đồng quốc tế và sau đó tiêu hủy đã tạm thời đẩy lùi kế hoạch can thiệp quân sự vào Syria của Mỹ. Động thái này cũng đẩy diễn biến tình hình của Syria đến một giai đoạn mới. Tạp chí “Tin Trung Đông” có bài phân tích về vấn đề này như sau:
Phản ứng của các bên liên quan đến kế hoạch mới
Ngay trước thềm Hội nghị thượng đỉnh G20, các cơ quan đặc biệt Mỹ đã thực hiện thành công chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, tung tin giả khiến cả thế giới tin rằng Chính phủ Syria sử dụng vũ khí hóa học chống lại thường dân. Cộng đồng quốc tế phải đối mặt với triển vọng can thiệp quân sự của Mỹ vào Syria. Tuy nhiên, bất chợt có sự đảo ngược tình thế trong diễn biến tình hình xung quanh vấn đề Syria. Ngày 9/9, Ngoại trưởng John Kerry tuyên bố Syria có thể ngăn chặn hành động can thiệp quân sự của Mỹ nếu trong vòng 1 tuần trao toàn bộ kho vũ khí hóa học của mình cho cộng đồng quốc tế giám sát. Cùng ngày, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov kêu gọi Syria đặt các kho vũ khí hóa học của mình dưới sự kiểm soát của cộng đồng quốc tế và sau đó tiêu hủy chúng.
Ngoại trưởng Syria Walid al-Moallem nhất trí với sáng kiến trên. Ngày 10/9, Ngoại trưởng Syria tuyên bố ông được ủy quyền khẳng định về sự ủng hộ của Syria đối với sáng kiến của Nga liên quan đến kho vũ khí hóa học của nước này theo quy định của Tổ chức phòng chống vũ khí hóa học. Ngoại trưởng Syria cũng khẳng định Damascus đã sẵn sàng báo cáo về địa điểm các kho vũ khí hóa học, ngừng sản xuất vũ khí hóa học và công bố các loại vũ khí này trước đại diện của Nga, Liên Hợp Quốc và các nước khác. Quyết định của Syria được Tổng thư ký Liên Hợp Quốc ủng hộ. Tuy nhiên, Tổng thống Bashar al-Assad yêu cầu cần phải điều tra mọi vụ việc trong đó vũ khí hóa học đã được sử dụng, kể cả sự kiện tại Aleppo, địa điểm lực lượng nổi dậy chống chính phủ đã bắn tên lửa với đầu đạn được nhồi vũ khí hóa học giết chết hàng trăm người. Tổng thống Assad nhấn mạnh điều này cần phải được điều tra cụ thể, làm rõ tất cả các chi tiết, đặc biệt chính xác ai là thủ phạm gây nên tội ác. Syria và toàn thế giới dường như đã có một cơ hội tốt. Trong những ngày tới, Nga sẽ đưa ra kế hoạch giao nộp số vũ khí trên cho cộng đồng quốc tế kiểm soát.
Sự thật đằng sau cáo buộc Chính phủSyria sử dụng vũ khí hóa học
Ủy ban quốc tế điều tra về vấn đề Syria trong báo cáo mới nhất của mình, được đệ trình lên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc tại Geneva ngày 11/9, khẳng định chính lực lượng nổi dậy mới là “tội phạm chiến tranh khi thực hiện hành vi bắt cóc, tra tấn, hành quyết, giết người, bắt giữ con tin, tấn công các mục tiêu được bảo vệ, bao vây và pháo kích bừa bãi vào các khu vực dân cư…”. Thông tin trong báo cáo dựa trên các bằng chứng đã được thu thập trong khoảng thời gian hai tháng từ ngày 15/5-15/7/2013.
Những cáo buộc của Mỹ về việc quân đội chính phủ Syria sử dụng vũ khí hóa học gần Damascus ngày 21/8/2013, gần như cùng với ngày các thanh sát viên Liên Hợp Quốc đến Syria, là hoàn toàn vô căn cứ. Quân đội Syria đã giành lợi thế trên thực địa trước lực lượng nổi dậy trong những tháng gần đây và rất vô lý khi khẳng định chính họ đã sử dụng vũ khí hóa học ngay trên khu vực quản lý của mình. Đồng thời cũng thật phi lý khi cho rằng Chính phủ Syria sử dụng vũ khí ngay tại thời điểm các thanh sát viên Liên Hợp Quốc đến điều tra về các vụ việc liên quan đến tấn công hóa học tại Damascus.
Việc sử dụng vũ khí hóa học tại Syria trong tháng 8 vừa qua là một hành động khiêu khích của lực lượng nổi dậy Syria nhằm tạo ra cái cớ để lôi Mỹ can thiệp quân sự vào Syria. Nhờ vậy, Mỹ kiên quyết khẳng định Chính phủ Syria phạm tội. Theo tuyên bố của Nhà Trắng dù rằng cuộc không kích đã bị tạm hoãn nhưng quyết định thực hiện tấn công quân sự không được đảo ngược.
Sự chỉ trích của Mỹ đã đi quá xa khi nhớ lại rằng chính Washington từng sử dụng vũ khí hóa học tại Việt Nam trong những năm 1970 khiến hàng nghìn thường dân vô tội thiệt mạng. Hiện vẫn còn nhiều trẻ em lớn lên phải đối mặt với những hậu quả thảm khốc do chất độc màu da cam gây ra. Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ đã thực hiện bốn cuộc chiến tranh tấn công các nước Nam Tư, Afghanistan, Iraq và Libya.
Tại Nam Tư và Iraq, quân đội Mỹ đã sử dụng vũ khí urani nghèo gây thảm họa sinh thái và ô nhiễm phóng xạ. Tại Iraq, vũ khí hóa học này đã dẫn đến sự gia tăng bệnh ung thư ảnh hưởng lớn đến người lớn và trẻ em. NATO ném bom Nam Tư năm 1999 gây nên thảm họa môi trường xung quanh sông Danube. Thậm chí, Áo đã không cho máy bay chiến đấu của NATO bay qua không phận của mình và cảnh báo sẽ thực hiện hành vi phòng vệ trong trường hợp NATO vi phạm. Điều đáng chú ý, Áo đưa ra quan điểm tương tự đối với tình hình Syria hiện giờ. Áo cũng từ chối ủng hộ hành động quân sự nếu không có Nghị quyết của Hội đồng Bảo an và tuyên bố không cho máy bay chiến đấu của NATO sử dụng không phận của mình.
Tại Syria, Mỹ cũng theo đuổi cùng một mục tiêu: Lật đổ chế độ hiện nay bằng mọi cách. Thật là đạo đức giả khi Washington tuyên bố kế hoạch hành động của mình “không tính đến việc can thiệp vào cuộc nội chiến”. Cái kiểu “tránh can thiệp vào công việc người khác” trên thực tế có nghĩa kế hoạch của Mỹ bắt đầu một cuộc chiến tranh chống Syria với sự liên kết cùng al-Qaeda.
Con đường ghập ghềnh phía trước
Tại thời điểm này, kế hoạch tấn công quân sự Syria đã bị trì hoãn. Đặc phái viên Liên Họp Quốc và Liên đoàn Arab về Syria Lakhdar Brahimi đã gặp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov ngày 13/9 tại Geneva để cùng nhau hội đàm. Theo ông Lakhdar Brahimi, một thỏa thuận đạt được sẽ đặt vũ khí hóa học Syria nằm dưới sự kiểm soát của cộng đồng quốc tế. Vòng tiếp theo của cuộc đàm phán sẽ được tổ chức vào ngày 28/9 đế thảo luận về triển vọng Hội nghị Geneva-2. Tuy nhiên, diễn biến tình hình còn rất kịch tính. Một chiến thuật ngoại giao đã mở rộng cơ hội cho các bên cùng tham gia một cuộc chơi lớn trong và xung quanh vấn đề Syria. Cộng đồng quốc tế vẫn phải đối mặt với tình trạng chống đối giữa các lực lượng muốn thực hiện kế hoạch thay đổi chế độ Assad cũng như những người phản đối kế hoạch xâm lược. Chắc chắn các đối thủ phản đối sáng kiến của Nga sẽ làm mọi cách để thúc đẩy Hội đồng Bảo an thông qua một nghị quyết có thể tránh thực hiện kế hoạch kiểm soát khủng hoảng hiện thời và lôi thế giới trở lại trạng thái bên bờ vực của một cuộc tấn công quân sự.
Lộ trình sửa chữa cho hành động này khá đơn giản. Yếu tố cốt lõi ở đây là đòi hỏi thỏa thuận của Syria để chuyển giao vũ khí khỏi quyền kiểm soát Damascus. Tuy nhiên, kế hoạch này dễ dàng bị cản trở bởi hiện giờ còn nhiều phe nhóm vũ trang, tổ chức khủng bố hoạt động ở Syria được Mỹ cùng đồng minh hậu thuẫn, cung cấp tiền bạc và vũ khí.
Sau đó Chính quyền Assad sẽ bị cáo buộc vi phạm thỏa thuận để kích động cho cái gọi là thực hiện tấn công trừng phạt. Có thể có một kế hoạch khác nhưng mục tiêu sẽ vẫn như cũ, đưa sáng kiến của Nga ra khỏi chương trình nghị sự và quay ngược lại thời khắc Nhà Trắng có thể quyết định mình có quyền tự do hành động, thực hiện một cuộc tấn công quân sự trong khi phe phản đối trong Quốc hội Mỹ và trên thế giới đang bị yếu đi. Mặc dù còn nhiều vấn đề cần thảo luận nhưng nội dung chính của thỏa thuận về Syria gồm những điều khoản chính đã rất rõ ràng:
Thứ nhất, chấm dứt hành động chiến đấu giết hại lẫn nhau tại Syria để đảm bảo an ninh trong khi vũ khí được chuyển giao cho cộng đồng quốc tế.
Thứ hai, cần có sự đảm bảo vững chắc từ Mỹ và các nước khác là sẽ không tấn công Syria.
Thứ ba, đảm bảo an ninh cho nhân viên quốc tế hoạt động vì kế họach này tại Syria.
Sáng kiến của Nga đã đẩy lùi mối đe dọa chiến tranh nhưng những kẻ xâm lược tiềm tàng không thể bị biến thành người ủng hộ hòa bình một cách bất thình lình (chỉ có nguy cơ trả đũa từ đối thủ ngang sức ngang tài mới có thể khiến họ tỉnh ngộ). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn thảo: Liệu sáng kiến của Nga chỉ là tạm thời hay đã đảo ngược được tình thế? Liệu sự từ bỏ kế hoạch chiến tranh của Washington có thành thật? Liệu đây có phải là sáng kiến cuối cùng? Có rủi ro rất lớn trong việc chống lại những trở ngại trong và ngoài nước trong quá trình chuẩn bị thực hiện kế hoạch can thiệp quân sự, Chính quyền Obama quyết định đạt được những mục tiêu mà mình đã đề ra (lật đổ Tổng thống Assad, dựng lên một chính phủ nắm quyền thân Mỹ, đẩy cỗ máy chiến tranh đến gần biên giới Iran) bằng các công cụ ngoại giao. Và đây là những vấn đề còn bỏ ngỏ đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Không nên ảo tưởng về các mục tiêu trong chính sách của Mỹ. Những người đại diện cho hòa bình ở Trung Đông đang tìm cách câu giờ trong khi Mỹ sẽ tiếp tục tìm mọi cớ để phát động một cuộc chiến tranh can thiệp quân sự mới.
***
Theo diễn biến mới nhất, Syria đã công khai tuyên b kế hoạch gia nhập Hiệp ước không phổ biển vũ khí hạt nhân và trong chừng mực nào đó, mối đe dọa chiến tranh đã bị loại bỏ. Đồng thời, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban-ki-moon hoan nghênh thỏa thuận đạt được giữa Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov và người đồng cấp Mỹ John Kerry về vũ khí hóa học
của Syria. Barack Obama lãnh đạo các nước châu Âu cũng bày tỏ sự hài lòng với thỏa thuận này. Tuy nhiên, Lầu Năm Góc lại tuyên b cho dù có đạt được thỏa thuận giữa Washington Moskva, quân đội Mỹ vẫn trong tình trạng trực chiến đ thực hiện hành động quân sự viSyria. Dưới dây ỉà phân tích của Đại sứ Iran tạiJordan Mohammad Irani:
Nếu cuộc tấn công của Mỹ đối với Syria không diễn ra, một bước đi quan trọng đã được thực hiện trong việc ngăn ngừa sự lan rộng khủng hoảng ra toàn khu vực. Những điều kiện mới nhất do Mỹ đưa ra dựa trên thế mạnh sẽ thực hiện tấn công quân sự Syria trong chừng mực nào đó đã được kiểm soát thông qua những nỗ lực ngoại giao của Moskva. Tất nhiên, rõ ràng là việc chấp nhận sáng kiến của Nga đã vượt khỏi khuôn khổ một cuộc diễn tập chính trị. Xu thế tình hình trong nội bộ chính trường Mỹ nhìn chung cho thấy các cơ quan có trách nhiệm không mấy sẵn sàng thực hiện kế hoạch tấn công quân sự. Lý do dẫn đến tình trạng trên là:
Thứ nhất, khả năng sẽ không có sự chấp thuận của Quốc hội về kế hoạch hành động quân sự, sự phản đối của đa số người dân Mỹ, những lo ngại về chi phí dành cho cuộc chiến, sự gián đoạn trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia… là mối lo ngại lớn đối với Tống thống Barack Obama những ngày này. Ngoài ra, còn nhiều vấn đề khác như hậu quả khó lường khi can thiệp quân sự, khả năng lan rộng của cuộc chiến; sự thiếu hợp tác nghiêm trọng của một sổ đồng minh châu Âu… đều có thể dẫn đến sự chậm trễ hoặc hủy bỏ kế hoạch tấn công quân sự vào Syria.
Thứ hai, Obama cho rằng sáng kiến của Nga, kế hoạch để cộng đồng quốc tế giám sát vũ khí hóa học ở Syria, sự chấp nhận của chế độ cầm quyền ở Damascus đều là kết quả thu được sau hành động đe dọa tấn công của Mỹ. Nếu quả thật như vậy thì dường như Tổng thống Obama đã đúng về kế hoạch này và sau đó Nhà Trắng tiếp tục thực hiện đe dọa, đưa ra tuyên bố vào thời điểm phù hợp và những áp lực sẽ vẫn tồn tại. Một vấn đề luôn được đặt ra là Barack Obama và Nhà Trắng thực sự đang tìm kiếm điều gì ở Syria? Làm Bashar al-Assad suy yếu, lật đổ chính phủ hiện nay, sử dụng quyền lực siêu cường răn đe khu vực để hỗ trợ chiến lược Chính phủ Israel hay xác định phương trình cân bằng quyền lực quốc tế?
Có lẽ mục đích quan trọng thất của Mỹ đối với Syria là giải trừ quân bị, không để Syria sử dụng vũ khí hóa học trong những tình thế quan trọng, đặc biệt là sử dụng để răn đe các nước trong khu vực. Trong trường hợp này, với cam kết của Nga, sự giám sát, kiểm soát của các tổ chức quốc tế thì mục tiêu trên của Mỹ đã đạt được mà không phải cần chiến tranh mà kéo theo nhiều hậu quả nặng nề sau đó. Nga cũng phải đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng liên quan đến hành động đe dọa tấn công quân sự của Mỹ. Nếu cuộc tấn công này xảy ra, rõ ràng Nga sẽ không thể thực hiện biện pháp trả đũa và sẽ phải gánh chịu hậu quả tiêu cực nhiều hơn bất kỳ nước nào khác trong khu vực. Vì vậy, kế hoạch của Nga được xác định trong việc đưa ra một kế hoạch giám sát, kiểm soát dựa trên lợi ích chiến lược của họ.
Đồng thời, cần phải nhớ ràng cách thức, xu thế, phương pháp thực hiện sáng kiến này vẫn chưa được đưa ra. Sự giám sát của cộng đồng quốc tế đối với vũ khí hóa học ở Syria (vấn đề trọng tâm nhất) không có định nghĩa rõ ràng. Liệu việc giám sát này có chỉ giới hạn trong sử dụng vũ khí hóa học bên trong lãnh thổ Syria, ngăn chặn vũ khí rơi vào tay lực lượng Takfiri và các nhóm cực đoan cấp tiến (mà bản thân từng vấn đề đều đáng quan tâm đối với các bên tham chiến) hay việc tiêu hủy vũ khí hóa học vẫn được tiến hành trong mọi trường hợp, kể cả sự can thiệp quân sự của nước ngoài hoặc trong trường hợp Israel tấn công Syria? Có vẻ như trần quy định trong thỏa thuận của Mỹ với Nga chỉ là tiêu hủy hay hoàn toàn từ bỏ các loại vũ khí hóa học.
Sáng kiến của Nga là một bước đi quan trọng trong việc ngăn ngừa một cuộc khủng hoảng mới trong khu vực. Đó là lý do tại sao sáng kiến này được cộng đồng quốc tế hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng nếu vấn đề này vẫn được phương Tây tính toán, xem xét khi Nga và Syria đã rút lui thì sau đó có lý do khiến người ta lo ngại rằng sẽ có thêm nhiều mối đe dọa và áp lực dưới nhiều dạng thức và cái cớ khác nhau dành cho Syria.
***
Tạp chí “Trung Đông” mới đây có bài phỏng vấn Tiến sỹ Bahram Amirahmadian, chuyên gia các vấn đề quốc tế về việc Syria trở thành thành viên Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) và vai trò của Nga, Mỹ, các nước Arab trong diễn biến tình hình Syria.
- Mỹ và Nga đã đề xuất một kế hoạch mới về Syria. Các chi tiết của kế hoạch này là gì?
- Kế hoạch này đề cập đến một số điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất, các nước đã thuyết phục Syria thừa nhận có vũ khí hóa học. Một mặt nỗ lực của Syria để gia nhập NPT đã giảm thiểu khả năng các mối đe dọa có thể tạo ra từ sự sụp đổ của Chính quyền Bashar al-Assad và đề phòng quân đội chính phủ hay lực lượng nổi dậy tiếp cận sử dụng các kho vũ khí hóa bọc này. Trên cơ sở thỏa thuận được đưa ra, các loại vũ khí này phải được bàn giao cho Liên hợp quốc dưới sự giám sát của tổ chức này, sau đó vũ khí hóa học sẽ được tiêu hủy.
Thứ hai, dường như cộng đồng quốc tế đã đạt được những điều khoản tích cực trong thỏa thuận này và đương nhiên phải đưa ra một số nhượng bộ đối với Nga. Những gì được đề xuất bắt nguồn từ vấn đề Nga luôn nhấn mạnh rằng Chính phủ Syria không được sử dụng những loại vũ khí này. Cách tiếp cận này có nghĩa vũ khí hóa học của Syria đang nằm dưới sự kiểm soát của Nga và các đơn vị quân sự của nước này đang đồn trú tại Syria. Trên cơ sở đó, đế đổi lấy những nhượng bộ trao cho cộng đồng quốc tế và sẽ dẫn đến giảm chi phí cho các cường quốc thế giới trong tấn công Syria, Nga đã đặt điều kiện Bashar al-Assad không bị đưa ra xét xử là tội phạm chiến tranh bởi dựa trên những khái niệm hiện có, Tổng thống Syria có thể phải đối mặt với tội danh này.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là việc cứu Bashar al-Assad khỏi bị đưa ra xét xử là điều không dễ đàng được cộng đồng quốc tế chấp nhận, vấn đề này không chỉ được Mỹ mà còn có nhiều tổ chức liên quan đến Liên hợp quốc, tổ chức nhân quyền, tổ chức quốc tế giám sát vấn đề này theo đuổi. Ngoài ra, người dân Syria, những người đã phải chịu đựng đau khổ, chắc chắn sẽ đòi lại những gì mà họ đã mất. Nếu có 100 người theo đuổi vụ kiện vì 100.000 người đã phải thiệt mạng trong các cuộc đụng độ, thì chắc chắn họ sẽ theo đuổi vụ kiện Chính phủ Syria đến cùng. Vì vậy, việc đảm bảo của Nga, Mỹ về việc Assad không bị đưa ra tòa sẽ là chưa đủ bởi vì vấn đề này sẽ được theo đuổi thực hiện bằng các cơ chế, thể chế khác.
+ Mỹ tuyên bố nếu Syria vi phạm Hiệp ước không phổ biển vũ khí hạt nhân, Mỹ sẽ không cần đợi sự đồng ý của Liên hợp quốc để tấn công Syria. Ông đánh giá như thế nào về quan điểm của Mỹ từ nghi ngờ, phỏng đoán cuối cùng quyết định kiềm chế không tấn công Syria?
Trong giai đoạn chuẩn bị tấn công Syria, Ngoại trưởng John Kerry đã tuyên bố rõ ràng trong một bài phát biểu rằng Mỹ có thể không tấn công Syria nếu nước này giao nộp kho vũ khí hóa học cho cộng đồng quốc tế để tiêu hủy. Ngay lập tức Nga nắm lấy sáng kiến của Ngoại trưởng Kerry và Bộ Ngoại giao Nga đề xuất vấn đề vũ khí hóa học với Syria do mối quan hệ thân tình giữa Moskva và Damascus. Cuối cùng Nga đã nhận được sự tin tưởng, tín nhiệm về sáng kiến này. Vì Nga dự định đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề quốc tế nên Moskva đã ngay lập tức sử dụng cơ hội trên cùng ảnh hưởng của mình đối với Syria để đưa các bên ngồi vào bàn đàm phán, buộc Ngoại trưởng Syria Walid Muallem thừa nhận nước mình có sử dụng vũ khí hóa học và đồng ý giao nộp cho cộng đồng quốc tế. Do vậy, dường như Mỹ đã thể hiện sự kiên quyết trong kế hoạch của mình rằng nếu sáng kiến của Nga không thành công, nếu Nga và Syria có ý định câu giờ thì Washington sẽ ngay lập tức thực hiện tấn công quân sự. Lý do chính là Mỹ ban đầu tuyên bố cho phép 1 tuần trì hoãn, sau đó nói rằng cho phép 15 ngày và gần đây nhất cho phép 1 tháng, cần phải nhớ rằng quá trình này sẽ phải kéo dài và quá trình bàn giao, tiêu hủy vũ khí hóa học rất nhạy cảm, tốn kém. Rất có khả năng quá trình này sẽ bị gián đoạn nửa chừng do các phần tử khủng bố sẽ thực hiện một cuộc tấn công, khiến tình hình khủng hoảng càng thêm phức tạp. Do đó, tối hậu thư một tuần của Mỹ trên thực tế là vi phạm các điều khoản trong thỏa thuận và điều này cho thấy Mỹ vẫn ấp ủ kế hoạch tấn công Syria.
Do vậy, bất kỳ hành động thiếu nghiêm túc nào cũng sẽ dẫn đến thảm họa. Điều này có nghĩa nếu một số quan chức Syria có ý định tạo ra vấn đề cho Chính quyền Assad thì họ có thể phá vỡ kế hoạch này, tạo cho Mỹ cái cớ để can thiệp quân sự. Do đó, dường như cách tốt nhất đối với Mỹ và cộng đồng quốc tế là xác định một tối hậu thư càng sớm càng tốt và đối với Chính phủ Syria là khẳng định thực hiện theo đúng lịch trình đề ra nhằm ngăn chặn thảm họa này. Nếu không, Mỹ đang rình rập sẵn sàng phát động cuộc không kích quân sự Syria mà điều này cuối cùng sẽ chỉ tạo nên sự hỗn loạn cho toàn khu vực.
+ Pháp đã thỏa thuận với ba nước Arab là Saudia Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Jordan tiếp tục hỗ trợ cho lực lượng nổi dậy Syria. Điều đó cho thấy hiện có rất nhiều mâu thuẫn giữa các nước
và với Mỹ về vấn đề tấn công Syria. Hay nói cách khác phải chăng ba nước Arab thất vọng về quyết định của Mỹ không tấn công Syria?
- Pháp, các nước Arab và Mỹ có thể hành động phối hợp cùng nhau hoặc đơn lẻ. Giả thuyết nói trên là điều không thể bởi nếu Mỹ tấn công Syria, làm suy yếu sức mạnh quân sự của Chính quyền Assad thì sau đó họ sẽ phải tìm ra giải pháp thay thế cho chính phủ đã bị lật đổ. Chính phủ lâm thời không thể trao cho cho các phần tử cực đoan hay al-Qaeda bởi vì đây sẽ là điều bất lợi nghiêm trọng đối với tất cả các bên, đặc biệt là những nước láng giềng Syria bằng cách này hay cách khác đang hỗ trợ lực lượng nổi dậy ôn hòa. Đó là lý do tại sao các cường quốc phương Tây và khu vực dự kiến tìm một lực lượng thay thế không nằm trong số các phe nhóm cực đoan, trung thành thực hiện các điều khoản quy định của quốc tế trong khi Chính phủ Syria thực hiện các cam kết của mình về giải trừ vũ khí hóa học cũng như sẽ trong tình trạng bị làm suy yếu (tiêu hao lực lượng mũi nhọn là vũ khí hóa học và binh sỹ). Ngoài ra, số vũ khí mà phe nổi dậy hiện có chủ yếu là vũ khí hạng nhẹ và từ bây giờ, lực lượng đối lập cần phải có những vũ khí chiến lược, hạng nặng để cân bằng phương trình sức mạnh. Đó là lý do tại sao Pháp và một số nước Arab đã lên kế hoạch cung cấp vũ khí cho phe nổi dậy nhưng lại chưa tuyên bố về thời điểm chuyển giao. Ngay giờ đây, đã đến lúc cho Pháp và ba nước Arab nói trên hành động và số này có thể đóng vai trò trong diễn biến tình hình liên quan đến cân bằng quyền lực ở Syria và ngăn chặn thảm họa không mong đợi.
+ Phải chăng điều này cũng giống như Ai Cập nơi Mỹ không can thiệp quân sự và Saudia Arabia một mình đơn phương ủng hộ lực lượng chống đối Morsi?
Chắc chắn là không phải như vậy vấn đề Ai Cập và Syria hoàn toàn khác nhau. Lý do là vì: (1) Phe đối lập chống Morsi được quân đội hậu thuẫn trong khi tại Syria quân đội đứng về phía chính phủ. Nói cách khác đó là lực lượng quân đội ý thức hệ. Tại Ai Cập, không có cấu trúc hệ đối với quân đội và cuối cùng, lực lượng vũ trang đứng về phía người dân cùng sức mạnh quyền lực mà quân đội nắm giữ; (2) Phe đối lập chống Chính phủ Syria được trang bị vũ khí và điều này có nghĩa là nội chiến đang xảy ra tại Syria. Tuy nhiên, không có chiến tranh tại Ai Cập. Lực lượng đối lập tại Cairo cũng tham gia gây nên khủng hoảng nhưng chưa từng sử dụng vũ khí bởi vì cấu trúc của Anh em Hồi giáo là hoàn toàn khác; (3) về cơ bản, sự can thiệp vào tình hình hai nước cũng khác nhau. Saudia Arabia đưa quân đội vào Bahrain, hỗ trợ 6 tỷ USD cho Ai Cập và ở Syria, Riyadh cung cấp vũ khí cho phe nổi dậy. Tuy cách thức khác nhau nhưng đều có chung mục đích là để bảo vệ lợi ích của chính quyền Saudia Arabia.
+ Quốc vương Kuwait đã gặp Tổng thống Obama. Ông đánh giá như thế nào về cuộc gặp này và việc đàm phán liên quan đến diễn biến tình hình Trung Đông và khủng hoảng Syria?
- Nếu chúng ta có ý định đánh giá tình hình khu vực thì Kuwait là một ví dụ điển hình bởi nước này được xem là trung tâm của các căn cứ quân sự ở vùng Vịnh Persian. Đương nhiên, các nước này có quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau. Hơn nữa, sức mạnh quân sự không tồn tại để ngăn chặn khả năng tấn công Syria, về cơ bản, chúng ta đã chứng kiến cuộc chiến tranh vùng Vịnh để kết thúc sự chiếm đóng Kuwait không phải do quân đội Kuwait thực hiện mà chính là quân đội Mỹ đã thực hiện hành động quân sự để loại bỏ những kẻ chiếm đóng. Chính phủ Kuwait là đồng minh của Mỹ và sẵn sàng duy trì mối quan hệ này dưới mọi hình thức và mọi điều kiện. Cả Qatar và Bahrain đều tuyên bổ sẵn sàng cho thiết lập căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ nước mình. Tóm lại, với toan tính chiến lược của các nước lớn và đồng minh khu vực, Trung Đông còn lâu mới thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và là điểm nóng xung đột của thế giới.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Thứ Bảy, ngày 28/09/2013

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HÓA" QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                                 Lê Văn Hòa
 “Phi chính trị hóa” quân đội là một nội dung cơ bản của Chiến lược "Diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấ công nhân. Trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của Mỹ chống Việt Nam, Quân đội ta là một trọng điểm chống phá quan trọng của chúng. Mục tiêu trước mắt mà chúng thực hiện là tập trung vào thúc đẩy tự do hóa về chính trị, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa, "phi chính trị hoá" Quân đội ta. Tư tưởng chỉ đạo là: chủ động, tiếp cận, chọn lọc, êm thấm và chú trọng kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Phương châm là: đánh mềm, đánh ngầm, đánh sâu, đánh hiểm, đánh có trọng điểm. Vì vậy, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của kẻ thù, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp công nhân của quân đội là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của Đảng, Nhà nước và quân đội ta.

Thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội đối với cách mạng nước ta, trước hết các thế lực thù địch tăng cường tuyên truyền đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn, tự do vô chính phủ...Những biểu hiện gần đây nhất khi Quốc hội nước ta tổ chức lấy ý kiến vào việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhân cơ hội này đã cố ý phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (đòi bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp), đổi tên nước, đòi đa nguyên, đa đảng, đề nghị tam quyền phân lập, đề nghị “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, huyễn hoặc về "quân đội quốc gia"… Đối với Quân đội ta, chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng, đòi từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, biến Quân đội ta thành “quân đội trung lập”, quân đội chỉ phục tùng Nhà nước, nhằm làm phai mờ, suy giảm bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân, tiến tới làm tan rã Quân đội ta.

Quân đội bao giờ cũng mang bản chất chính trị của một giai cấp nhất định. Lịch sử ra đời và phát triển của quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội xuất hiện và tồn tại với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, phụ thuộc vào chính trị, là công cụ thực hiện chính sách ấy. Ngay từ khi ra đời, quân đội đã thấm đậm chính trị của giai cấp và luôn luôn mang trong mình dòng máu nóng của chính trị giai cấp. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản và mọi hoạt động của quân đội. Bất cứ giai cấp, nhà nước nào khi tổ chức ra quân đội cũng đều chăm lo xây dựng quân đội về chính trị theo chính trị của họ, làm cho quân đội ấy phục tùng, bảo vệ quyền lợi chính trị - kinh tế của giai cấp, nhà nước đã tổ chức ra nó. Quân đội bao giờ cũng mang bản chất chính trị của một giai cấp, nhà nước đã tổ chức ra nó và chỉ một mà thôi. Không bao giờ có một thứ quân đội “siêu giai cấp”, “đứng ngoài chính trị”, V.I. Lênin khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”[1]. Quân đội nhân dân Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy, kẻ thù hiểu rõ quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Trải qua gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội ta luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; lực lượng trụ cột của công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện âm mưu "Phi chính trị hóa" quân đội, chúng tìm mọi cách làm xói mòn bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta, trước hết, tập trung chống phá Quân đội ta về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho quân đội ta rơi vào quỹ đạo chính trị của quân đội tư sản. Trong cuốn "Chớp lấy thời cơ, thách thức đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường", R. Ních- xơn khẳng định: Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước mậu dịch, viện trợ và các quan hệ văn hoá sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng.

Mục tiêu phá hoại về tư tưởng của kẻ thù đối với quân đội ta là làm cho quân đội xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, coi đây là “đột phá khẩu” quan trọng để chống phá. Các thủ đoạn chúng thường dùng để phá hoại bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta là sử dụng hệ thống phương tiện thông tin hiện đại, các diễn đàn công khai trên các mạng xã hội như Facebook, Twitter, youtube, Zing Me..., cùng với việc lén lút lưu hành tài liệu phản động và các kiểu thông tin truyền miệng xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa; tán dương chế độ tư bản; cổ vũ thuyết "đa nguyên, đa đảng", tuyên truyền cho "chủ nghĩa xã hội dân chủ"... cùng với sự phức tạp của tình hình chính trị, quân sự trên thế giới, những tác động tiêu cực của điều kiện kinh tế - xã hội đất nước, nhất là từ mặt trái của kinh tế thị trường đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của quân đội ta, đến đời sống tư tưởng, tâm lý, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ quân đội, làm nảy sinh trong quân đội những nhân tố phản cách mạng, từng bước tạo ra được “khoảng trống” về tư tưởng trong ý thức chính trị của quân đội, từ đó chúng đưa hệ ý thức tư sản vào quân đội, tạo điều kiện cho việc làm biến chất quân đội cách mạng.

Gần đây, một số phần tử phản động trong nước được Mỹ tiếp tay đã trắng trợn đòi xét lại đường lối cách mạng của Đảng ta. Chúng cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta. Chúng cố tình xóa nhòa ranh giới giữa Quân đội ta - một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, với quân ngụy tay sai đế quốc, rồi lên án cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là chiến tranh "vô nghĩa", "hao người tốn của”... nhằm phủ nhận bản chất, truyền thống của quân đội ta.

Về chính trị, kẻ thù cũng biết rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, truyền thống và sức mạnh của quân đội ta nên chúng tăng cường tuyên truyền kích động đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ chính trị trong quân đội, thường xuyên rêu rao quân đội là tổ chức trung lập, đứng ngoài chính trị, họ cho rằng: quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam hay với bất kỳ tổ chức nào!...

Về tổ chức, các thế lực thù địch cũng rất chú trọng tác động vào lối sống của cán bộ,  chiến sĩ quân đội. Lợi dụng những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế của chúng ta, chúng tìm cách tác động, đưa những yếu tố tiêu cực xâm nhập vào trong quân đội. Chúng cổ động tâm lý tự do, bất chấp kỷ cương, vô kỷ luật, lối suy nghĩ vị kỷ, chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, lối sống buông thả, đồng thời gây tâm lý bi quan, làm giảm sút ý chí chiến đấu... hòng làm phai nhạt dần hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ". Chúng kích động, gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, quân đội với công an, cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ với chiến sĩ... hòng phá hoại tinh thần đoàn kết gắn bó quân dân, đoàn kết cán - binh, đoàn kết hiệp đồng giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Cho đến nay có thể khẳng định, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong Quân đội ta vẫn được giữ vững và phát huy, nhưng cần nhận thấy những hiện tượng tiêu cực trái với bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội đã xuất hiện trong một số quân nhân những biểu hiện như: Dao động niềm tin, tư duy thực dụng, tham nhũng, vi phạm kỷ luật... Những hiện tượng này do sự tha hoá, kém ý thức phấn đấu rèn luyện của người quân nhân cách mạng và do sự buông lỏng quản lý giáo dục của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, “Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Tính trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan lưu...chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”[2].

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, "Phi chính trị hóa" quân đội của kẻ thù, giữ vững và phát triển bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh, vạch rõ tính chất phản động và phản khoa học của cái gọi là "Phi chính trị hóa" quân đội, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta. Tiếp tục đẩy việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương IV (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và những đợt học tập, sinh hoạt chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Trên cơ sở đó xây dựng xây dựng thế giới quan Mác - Lênin, phương pháp luận khoa học, niềm tin cộng sản chủ nghĩa cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Làm cho Quân đội ta luôn luôn giữ vững và phát huy truyền thống "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội", tạo ra sự "đề kháng, miễn dịch" nâng cao năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội, mọi quân nhân luôn kiên định vững vàng, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, không bị "tự diễn biến" trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.

Hai là, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, công tác giáo dục lý luận chính trị, thông tin kịp thời và có định hướng rõ ràng về những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp đang đặt ra; trang bị những tri thức về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cho cán bộ, chiến sĩ; kiên quyết đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái và phản động. Khắc phục mọi biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, dao động, mất cảnh giác trước âm mưu thâm độc, nham hiểm của kẻ thù. Đồng thời lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải nhạy bén với những tác động tiêu cực của đời sống kinh tế - xã hội, từ mặt trái của cơ chế thị trường, để có biện pháp ngăn ngừa và định hướng tư tưởng; kịp thời giải quyết những vướng mắc trong nhận thức và đấu tranh với những khuynh hướng lệch lạc, giữ vững trận địa tư tưởng vô sản trong mọi tình huống.

Ba là, thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, trước hết là quản lý tư tưởng cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ. Đây là một nhiệm vụ, một biện pháp quan trọng để phòng chống âm mưu "Phi chính trị hóa" quân đội. Mặt khác, từ thực tế công tác quản lý con người, việc thực hiện quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ ở các đơn vị cho thấy có nơi, có lúc còn sơ hở, để địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, làm tha hoá một số quân nhân về đạo đức, lối sống, suy giảm bản lĩnh chính trị. Do đó, nội dung quản lý phải toàn diện, trước hết, cần tập trung vào quản lý lập trường tư tưởng, quan điểm, thái độ chính trị của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là những vấn đề tư tưởng mới nảy sinh và những mâu thuẫn hàng ngày trong đơn vị; xử lý kịp thời các nguồn thông tin để định hướng nhận thức cho bộ đội, không để những thông tin xấu, những tin đồn nhảm lan truyền trong đơn vị; không để văn hoá phẩm xấu độc xâm nhập vào đơn vị; giữ nghiêm các chế độ về bảo mật, phòng gian... Cán bộ, chiến sĩ đi công tác xa đơn vị phải kết hợp tốt giữa việc tự quản lý lẫn nhau với công tác quản lý của đơn vị. Thực hiện chặt chẽ các quy định trong tuyển quân, xây dựng nguồn đào tạo sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, tuyển dụng công nhân viên quốc phòng và công tác kết nạp đảng viên trong quân đội...

Bốn là, chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là hạt nhân chính trị trong lãnh đạo việc củng cố, giữ vững trận địa tư tưởng vô sản trong đơn vị. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, trước hết phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, nói, viết và làm theo Nghị quyết của Đảng. Luôn đứng vững trên lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân để xem xét, giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nhạy bén, sắc sảo, chủ động, kịp thời đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác -  Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững vàng, kiên định, về chính trị, tư tưởng, trong sạch về mặt tổ chức, giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quân đội là một hiện tượng chính trị - xã hội, từ khi xuất hiện cùng với quá trình tồn tại của nó đều gắn bó với chính trị. Không bao giờ có quân đội “phi giai cấp” hay “siêu giai cấp”; “phi chính trị” hoặc “đứng ngoài chính trị”. Do vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch phải gắn chặt với việc giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị./.



[1] V.I.Lênin toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1979, tr.136.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr.173.

LIỆU MỸ CÓ TUÂN THỦ LỆNH CẤM VŨ KHÍ SINH HỌC QUỐC TẾ?

TTXVN (Pretoria 22/9)
Theo Tạp chí “Toàn cảnh châu Phi” ngày 12/9, trong khi vấn đề kho vũ khí hóa học của Syria đang tràn ngập trên các bản tin của giới truyền thông thì chẳng mấy ai chú ý, quan tâm đến sự tuân thủ của Mỹ đối với nghĩa vụ quốc tế của nước này liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD).
Công ước vũ khí sinh học (BWC) là hiệp ước ràng buộc về mặt pháp lý nằm ngoài Hiệp ước vũ khí sinh học. BWC có hiệu lực từ năm 1975, với sự tham gia của 165 nước và 12 vùng lãnh thổ và tái khẳng định Nghị định thư Geneva 1925 trong đó nghiêm khắc cấm việc sử dụng vũ khí sinh học. Hội nghị thứ 7 của BWC được tổ chức vào tháng 12/2011. Văn bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị đã kết luận: “Trong mọi trường hợp, việc sử dụng vũ khí vi khuẩn (sinh học) và độc tố đều bị nghiêm cấm theo quy định của Công ước và khẳng định quyết tâm của các nước thành viên lên án việc sử dụng bất kỳ tác nhân sinh học hay hóa chất độc hại nào khác ngoài vì mục đích hòa bình, bởi bất kỳ ai, vào bất kỳ thời điểm nào”.
Năm 1969, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã chấm dứt mọi chương trình vũ khí sinh học của Mỹ. Năm 1975, Mỹ phê chuẩn cả hai văn bản: Nghị định thư Geneva 1925 và Công ước vũ khí sinh học 1972-BWC (các hiệp ước quốc tế cấm chiến tranh sinh học). Tuy nhiên, chương trình quốc phòng sinh học gần đây của Mỹ đã làm dấy lên lo ngại Washington có thể theo đuổi việc nghiên cứu đó ngoài vòng pháp luật của BWC. Tháng 2/2008, Văn phòng kiểm toán chính phủ (GAO) công bố báo cáo GAO-08- 366 có nhan đề “Quốc phòng hóa học và sinh học, Bộ quốc phòng cần phải cải thiện nỗ lực để xác định và thông báo cho các cá nhân có khả năng tiếp xúc trong quá trình thử nghiệm hóa học và sinh học”. Báo cáo này cũng cho biết hàng chục nghìn nhân viên quận sự, dân sự có thể đã tiếp xúc với các chất sinh học và hóa học thông qua các cuộc thử nghiệm kiểm tra của Bộ Quốc phòng. Năm 2003, Lầu Năm Góc công bố đã xác định 5.824 nhân viên quốc phòng và khoảng 350 nhân viên dân sự có khả năng đã bị phơi nhiễm trong các cuộc thử nghiệm có tên gọi Đề án 112.
Hiện có nhiều tin tức từ các nguồn khác nhau cho biết Mỹ tiếp tục phát triển một thế hệ mới các loại vũ khí có thể phá hoại và làm suy yếu các hiệp ước quốc tế về chiến tranh hóa học, sinh học. Theo nhà báo Jeffrey Silverman, nguyên cố vấn cho Tổng thống Gruzia Mikheil Saakashvili, “Một số phòng thí nghiệm nằm rải rác ở Đông Âu có quan hệ chặt chẽ đến Chương trình Phòng chống phổ biến vũ khí sinh học và rất nhiều dự án khác trong đó. Đó chỉ là vỏ bọc cho những gì chắc chắn là một chương trình vũ khí tấn công. Nếu có thể tạo ra các chủng loại virus kháng kháng sinh, nghiên cứu sản xuất virus có thể ăn vi khuẩn, tấn công các vết nhiễm trùng mà sau đó virus kháng kháng sinh có thể tiếp cận nhanh chóng. Bất kỳ ai có loại thông tin này sẽ có thể kiểm soát vũ khí sinh học chiến trường”. Cũng theo Sliverman, “Một trong những phòng thí nghiệm vũ khí bí mật trên lãnh thổ nước Cộng hòa Gruzia đã cung cấp khí độc sarin cho lực lượng nổi dậy chống Chính quyền Assad. Mục đích rất đơn giản. Đây là cách duy nhất để “vấy máu lên kẻ thù” giống như luận điệu phụ họa của Thượng nghị sỹ Graham và McCain để ủng hộ Chính quyền Obama tấn công quân sự Syria”.
Tháng 7/2013, Ngoại trưởng Nga đã bày tỏ sự lo ngại của nước này liên quan đến việc công bố báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ: “Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí, không phổ biến và giải trừ vũ khí năm 2012 là những vấn đề mà Nga cần thực hiện song song phù hợp với nghĩa vụ về Công ước vũ khí sinh học và độc tố (BTWC)”. Phản ứng trước tuyên bố trên, Ngoại trưởng Nga khẳng định: “Như mọi khi, không có bằng chứng nào được đưa ra. Trong khi đó, mối quan ngại của Mỹ có thể là quá chậm và loại bỏ hoàn toàn nếu như Mỹ không ngăn chặn việc tạo ra một cơ chế xác minh trong khuôn khổ của BTWC. Một cơ chế như trên có thể loại bỏ nhiều vấn đề nghi ngờ đối với Mỹ trong việc liên quan đến hàng loạt tổ chức của nước này hoạt động ứng dụng kép sinh học trên quy mô lớn. Như chúng ta đã biết kết quả của những hoạt động kiểu như trên có thể được sử dụng cho những mục đích trái với quy đinh tại điều 1 của BTWC”. Đồng thời Ngoại trưởng Nga nhấn mạnh: “Không có bằng chứng bằng văn bản nào cho thấy tất cả các đối tượng thuộc sự kiểm soát của Mỹ mà trước đó từng tham gia chương trình sinh học quân sự, đều bị phá hủy hay chuyển đổi sang các mục đích hòa bình phù họp với Điều 2 của BTWC. Và hoạt động sinh học của Bộ Quốc phòng Mỹ gần khu vực biên giới của Nga đã gây nên những quan ngại nghiêm trọng”.
Những e ngại nêu trên có căn cứ vững chắc. Một số phòng thí nghiệm của Lầu Năm Góc đang nằm (và thậm chí nhiều hơn nữa đang được xây dựng) ở những vùng phụ cận tiếp giáp biên giới Nga. Những nước thuộc Liên Xô trước đây bị lôi kéo tích cực tham gia quỳ đạo nỗ lực phát triển vũ khí sinh học của Mỹ, theo đó bao vây thế giới Hồi giáo, Trung Quốc và thực tế đã lan ra khắp toàn cầu.
Hoạt động tích cực của Lầu Năm Góc Ukraine
Mỹ đã tham gia xây dựng các phòng thí nghiệm vi sinh tại Ukraine. Theo báo Ukraina “2000”, một số người dân sống ở Kharkov đã đến văn phòng các nhà chức trách bày tỏ lo ngại về kế hoạch xây dựng một phòng thí nghiệm sinh học của Mỹ trong vùng lân cận thị trấn ngoại ô Shelkostantsia gần thành phố Merefa. Cũng theo tờ báo trên, Lầu Năm Góc đang trong quá trình xây dựng một mạng lưới các phòng thí nghiệm sinh học trên toàn Ukraine và chương trình đang trên đà phát triển toàn diện đến khắp khu vực biên giới của Nga, Belarus, Ba Lan và Moldova. Tại Ukraine, Mỹ đã hoàn thành xây dựng các phòng thí nghiệm ở Odessa, Dnepropetrovsk, Lugansk, Lviv, Vinnitsa, Ternopol, Uzhhorod, Kiev, Simferopol và Kherson. Người dân địa phương bày tỏ lo ngại về những hệ lụy đe dọa kéo theo trong trường hợp có sự rò rỉ các chất gây chết người. Tất cả các hoạt động nghiên cứu tại Ukraina được tiến hành theo Thỏa thuận hợp tác giảm thiểu các mối đe dọa ký kết vào tháng 8/2005. Nên nhớ rằng Lầu Năm Góc (không phải là một cơ quan dân sự mà là Bộ Quốc phòng) chịu trách nhiệm về chương trình này. Các Thỏa thuận tương tự cũng được ký kết với Gruzia, Azerbaijan, Armenia, Kazakhstan and Uzbekistan. Thỏa thuận họp tác trong lĩnh vực vi sinh giữa Mỹ và Ukraine đã hết hạn vào tháng 5/2013 nhưng chương trình nghiên cứu thí nghiệm vẫn được thực hiện. Mỹ khẳng định chương trình này có thể kéo dài đến tháng 9/2017.
Gruzia - nơi thử nghiệm thực tế cho những nghiên cứu sinh học của Mỹ
Tháng 5/2013, nhà báo Jeffrey Silverman đã công bố những tin tức giật gân. Theo ông, một phòng thí nghiệm ở ngoại ô Tbilisi nghiên cứu phát triển một loại bệnh gây nguy hiểm cho sức khỏe, đang tiến hành thử nghiệm chủng virus đó trên người dân địa phương. Bài phỏng vấn với Jeffrey Silverman được đăng tải trên tờ báo địa phương ‘Kvela Siakhle ’ và sau đó được phát sóng trên tất cả các đài truyền hình của Gruzia. Trước đó, nhiều lo ngại về phòng thí nghiệm này đã được nêu trong bài báo của tác giả Joni Simonishvili vào năm 2011 với nhan đề “Vũ khí hóa học hay phòng thí nghiệm khảo cứu sức khỏe sinh học ở Tbilisi?” Phòng thí nghiệm trên đặt tại Alexeyevka, một căn cứ quân sự của Liên Xô bị bỏ rơi, hiện là vùng ngoại ô với hàng nghìn người dân sinh sống. Ong Silverman khẳng định cư dân của Gruzia đã trở thành mục tiêu của thí nghiệm nguy hiểm nhất, một trong những chủ đề đang được bàn cãi ở Gruzia hiện nay. Theo tác giả bài báo, các thí nghiệm với các chủng virus đã dẫn đến sự lây lan của căn bệnh nguy hiểm như cúm lợn và bệnh sởi. Chính phủ Gruzia phủ nhận mọi cáo buộc liên quan. Silverman sẵn sàng đi xa hơn nữa đến tận cùng vấn đề. Ông cam kết sẽ công bố cho người dân Gruzia biết toàn bộ sự thật trong một thời gian ngắn nữa. Nhà báo này còn khẳng định thêm rằng còn nhiều nỗ lực hơn nữa đang được thực hiện để mở rộng chương trình, vũ khí hóa virus để sử dụng trong các cuộc chiến tranh sinh học. “Nếu có tình huống khẩn cấp xảy ra, Gruzia có thể sẽ bị xóa sổ khỏi bề mặt trái đất. Tại phòng thí nghiệm Tbilisi, họ đang chuẩn bị bệnh than, bệnh sởi, bệnh dịch hạch đen và cúm H1N1. Có thể một sự lây lan nhân tạo các loại virus sẽ được tiến hành, ví dụ như bệnh sởi mà hiện đang là vấn đề nghiêm trọng đối với đất nước này”. Ngày 4/6/2013, Gennady Onishchenko, Chánh thanh tra cơ quan kiểm dịch của Nga, đã cáo buộc Mỹ sản xuất vũ khí sinh học tại Gruzia trong một căn cứ hải quân Mỳ với sự phối hợp của chính phủ Gruzia. Theo khẳng định của cơ quan kiểm dịch Nga: “Sự tồn tại phòng thí nghiệm quân sự do Mỹ quản lý nghiên cứu loại vi trùng nguy hiểm tại một quốc gia tiếp giáp với Nga đã làm dấy lên nhiều lo ngại và là một trở ngại trong quan hệ hợp tác Nga- Gruzia để ngăn chặn bất kỳ mối đe dọa dịch bệnh và kiểm dịch nào”.
Cũng theo Cơ quan kiểm dịch Nga, dịch bệnh sốt lợn châu Phi gần đây là một hành động chủ ý theo kế hoạch nhằm phá hoại kinh tế. Theo đó, loại virus này xuất phát từ nước láng giềng Gruzia, gây bùng phát dịch bệnh dữ dội ở phía Nam nước Nga. Ông Onishchenko cũng cho biết Mỹ tuyên bố xóa bỏ phòng thí nghiệm nhưng sau đó Viện nghiên cứu Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Quốc gia của Gruzia đã tiếp quản điều hành phòng thí nghiệm trên. Cơ quan kiểm dịch Nga hy vọng nếu chính phủ Gruzia thực hiện tốt kế hoạch của mình thì Nga và Gruzia sẽ có thể hợp tác để kiềm chế mối đe dọa dịch bệnh.
Kazakhstan - ngôi nhà mi cho các phòng thí nghiệm của Mỹ
Cuối tháng 8/2013, nhiều phương tiện truyền thông đã đưa tin về việc Mỹ đang xây dựng một phòng thí nghiệm bệnh dịch hạch công nghệ cao ở Kazakhstan. Trung tâm thí nghiệm nghiên cứu (CRL) ở Almaty, Kazakhstan dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Phòng thí nghiệm có kinh phí lên đến 102 triệu USD do Cơ quan quốc phòng giảm thiểu đe dọa (DTRA) của Bộ Quốc phòng Mỹ tài trợ với mục đích nghiên cứu những tác nhân sinh học có thể được sử dụng làm vũ khí hủy diệt hàng loạt chống lại nhân loại. Cụ thể hơn, CRL còn có nhiệm vụ nghiên cứu bệnh than và những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời giữ cho các mầm bệnh luôn ở trong giới hạn an toàn. Bên cạnh đó, Phòng thí nghiệm này còn có nhiệm vụ thực hiện cuộc chiến toàn cầu về dịch bệnh nguy hiểm. Nhân vật môi giới trung gian cho Mỹ và Kazakhstan thực hiện kế hoạch xây dựng CRL là Charles Carlton, trung tá quân đội Mỹ, làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Astana của Kazakhstan. Ngoài ra, còn có một phòng thí nghiệm nhỏ hơn nằm dưới sự kiểm soát của Mỳ tại căn cứ quân sự ở thị trấn Otar, miền Tây Kazakhstan trên biển Caspian. Theo cáo buộc của các chuyên gia, phải chăng các phòng thí nghiệm này hoàn toàn có thể hoạt động như là trung tâm đầu não hay kho chứa các loại vũ khí sinh học của Mỹ hoặc các quốc gia khác? Tháng 7/2013, ông Onishchenko đã nói với các phóng viên: “Nga cần xem đây là một hành động tấn công đầy tiềm năng”.
Trung Quốc bị ảnh hưởng bi nỗ lực sinh học của Mỹ
Tháng 4/2013, một sỹ quan không quân Trung Quốc cáo buộc Chính phủ Mỹ đã tạo ra chủng bệnh cúm gia cầm mới, hiện đang hoành hành ở một số khu vực của Trung Quốc, như là một cuộc tấn công chiến tranh sinh học. Đại tá Dai Xu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, tuyên bố Mỹ đã phát tán virus cúm gia cầm H7N9 vào Trung Quốc trong một hành động chiến tranh sinh học, theo như những gì đăng tải trên blog cá nhân của ông. Lời cáo buộc đầu tiên được đưa ra trên báo Southern Metropolis Daily thuộc quyền quản lý của Chính quyền Quảng Châu và sau đó được nhiều hãng tin châu Á đăng lại. Đại tá Dai Xu là một nhà nghiên cứu chiến lược quân sự, người trước đây từng thẳng thắn phê bình trong việc tìm cách kích động xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ. Viết trên Sina Weibo, một trang mạng xã hội do Trung Quốc xây dựng, tương tự như Twitter, khẳng định chủng cúm gia cầm mới được tạo ra là một loại vũ khí hóa học tương tự như hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS). Theo nhận định của Dai Xu, Mỹ đã phát triển chủng virus này như một loại vũ khí sinh học nhằm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến Trung Quốc. “Vào thời điểm đó, Mỹ đang can thiệp quân sự vào Iraq và lo ngại rằng Trung Quốc sẽ tận dụng thời cơ để có những hành động khác. Đó là lý do tại sao Mỹ sử vũ khí sinh học-tâm lý học chống lại Trung Quốc. Tất cả đất nước Trung Quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn và đó chính là những gì Mỹ mong muốn. Giờ đây, Mỹ tiếp tục sử dụng chiến thuật cũ. Trung Quốc nên rút ra bài học và bình tĩnh giải quyết vấn đề”.
Vũ khí sinh học chống lại thế gii Hồi giáo
Tháng 8/2013, Tiến sỹ Kevin, một chuyên gia phân tích chính trị nổi tiếng, công bố thông tin gây chấn động, một loại vũ khí sinh học sẽ được phát tán trong vắc-xin phòng cúm ở các nước Hồi giáo. Nó sẽ làm biến đổi gen của con người để sản xuất ra một loại “phẫu thuật thùy não”, tiêu diệt toàn bộ phần não bộ liên quan đến tôn giáo và tâm linh. Nói cách khác, nó có thể khiến não bộ các nạn nhân của mình hạ xuống cấp độ thấp hơn giống như động vật (không giống như con người, không thể tạo ra niềm tin tôn giáo như não bộ trung tâm đã tạo ra cho họ). Thông tin trên được củng cố bằng một đoạn video rò rỉ từ Lầu Năm Góc do nhóm tin tặc Anonymous tấn công mạng lấy được. Video này mô tả chi tiết kế hoạch của quân đội Mỹ phát triển và triển khai vũ khí sinh học có thể tiêu hủy phần não bộ tiếp nhận thông tin tôn giáo với mục tiêu nhằm vào cộng đồng người Hồi giáo. Barrett cho biết đề xuất vũ khí sinh học sẽ được phát tán trong các vắc-xin phòng cúm và “sẽ làm thay đổi cấu trúc gen của con người để sản sinh ra một loại hóa chất phẫu thuật não”. Ông đã gọi kế hoạch của Lầu Năm Góc là “hành động rõ ràng của tội diệt chủng” theo quy định của luật pháp quốc tế. “Văn hóa của xã hội Hồi giáo là nền văn hóa mạnh mẽ về tôn giáo và điều đó đã kết nối cả tất các xã hội với nhau. Sự hủy hoại cái nôi trung tâm của nền văn hóa 1,5 tỷ người sẽ là tội ác diệt chủng tồi tệ nhất được nỗ lực thực hiện hay thậm chí chỉ là kế hoạch dự tính”.
Barrett cũng cáo buộc Lầu Năm Góc là một mối đe dọa đến toàn thể nhân loại. Do đó, tôn giáo và tinh thần (cộng đồng Hồi giáo) cần phải hành động vì công lý. Kế hoạch của Mỹ nhằm xóa bỏ mọi sự kháng cự về tôn giáo, tâm linh trên giới phục vụ cho mục đích của Washington giành được nhiều quyền lực hơn và xâm lược các quốc gia. Theo hãng truyền thông Press TV, “nếu họ không thể tiêu diệt những người đòi hỏi công lý (người Hồi giáo), thì những kẻ biến thái của Lầu Năm Góc sẽ rất mong muốn sử dụng tất những vũ khí sinh học chống lại tâm linh tôn giáo để không ai có hành động đấu tranh công lý cho thế giới này. Tất nhiên điều này sẽ là dấu chấm hết cho toàn nhân loại”.
Tóm lại, trong khi kho vũ khí hóa học của Syria còn đang trong tầm ngắm của cộng đồng quốc tế thì vấn đề lớn hơn về các phòng thí nghiệm bí mật của Mỹ vẫn bị che lấp. Mỹ đang tích cực tham gia thực hiện các chương trình sinh học trên vùng lãnh thổ của các quốc gia khác, hành động vi phạm trắng trợn các cam kết quốc tế của chính nước này.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Thứ Sáu, ngày 27/09/2013

MỸ ĐỨNG TRƯỚC LỰA CHỌN “CHIẾN TRANH HAY HÒA BÌNH” Ở SYRIA

TTXVN (Pretoria 24/9)
Theo mạng “Tin Trung Đông”, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey, được sự hậu thuẫn của các tướng lĩnh và đô đốc, đang đứng trước tình thế phải chấp thuận tức thì và thực hiện không cần suy nghĩ về kế hoạch hành động của tổng thống Barack Obama. Đó là phát động một cuộc tấn công quân sự Syria và vào một nền hòa bình vốn dĩ đã rất mong manh ở Trung Đông.
Tính đến thời điểm tối ngày 29/8, Tổng thống Obama đã và đang trên đà phát động một cuộc chiến tranh bằng tên lửa hành trình kéo dài 72 giờ và không kích vào các mục tiêu phòng không và chiến lược khác của Syria. Theo kế hoạch dự kiến, Mỹ sẽ thực hiện tấn công tổng lực bằng tên lửa, sau đó tấn công bổ sung nhằm vào những mục tiêu bị bỏ sót hoặc vẫn trụ vững sau loạt oanh kích thứ nhất. Nhà Trắng đã yêu cầu mở rộng danh sách các mục tiêu tấn công, tăng “nhiều hơn nhiều” so với con số 50 lúc ban đầu. Động thái này nhằm tăng khả năng tiêu diệt lực lượng quân sự của Tổng thống Syria Bashar al-Assad, vốn đang được triển khai rải rác khắp Syria.
Tổng thống Barack Obama đã bị đội ngũ hoạch định chính sách thuyết phục như cố vấn an ninh quốc gia Susan Rice, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Samantha Power, Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes, tất cả những người ủng hộ cho chính sách được gọi là “Trách nhiệm bảo vệ ” – (R2P) mà từ đó Obama có thể sử dụng làm con bài chủ chốt trước Quốc hội nhằm thuyết phục cơ quan quyền lực này đồng ý cho ông ta thực hiện kế hoạch tấn công Syria. Theo đó, Obama tuyên bố rằng hoạt động nhân đạo không cần được sự chấp thuận theo quy định của Nghị quyết quyền lực chiến tranh tại Điều 1, mục 8 của Hiến pháp Mỹ. Rhodes, nhân vật thiếu kinh nghiệm quân sự, cũng như Rice, Power đều đứng về phía Obama bởi vì mối quan hệ thân thiết gia đình với Tổng thống Mỹ. Anh trai của Rhode, David Rhodes, từng là giám đốc điều hành của Fox News, hiện là Chủ tịch tập đoàn truyền thông CBS News. Anh trai cố vấn đặc biệt của Obama, Tiến sỹ Elizabeth Sherwood-Randall, là Ben Sherwood hiện đang nắm chức Chủ tịch tập đoàn truyền thông ABC News. Power kết hôn với cựu thông tin chiến lược gia của Obama Cass Sunstein, người đã phát triển các phương pháp chống lại các thông tin xấu, không mấy thân thiện về Tổng thống thông qua các chiến dịch về “sự nhận thức bất hòa”.
Nhiều chính trị gia Mỹ đã bị ru ngủ vào buổi tối ngày 29/8 khi bị thuyết phục chắc chắn rằng Obama có thể sẽ đưa ra quyết định cuối cùng tấn công Syria trong những giờ khắc đầu tiên vào sáng ngày 30/8. Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Martin Dempsey, đã vội vã tới Nhà Trắng ngay từ sáng sớm tinh mơ ngày 30/8 để đưa ra lời kêu gọi cuối cùng về việc tạm hoãn kế hoạch tấn công. Dempsey đã nói với Tổng thống Obama rằng kế hoạch tấn công quân sự của Tổng thống chưa thể thực hiện. “Nếu Tổng thống thực hiện hành động này, kế hoạch sẽ thất bại và Tổng thống sẽ càng lún sâu thêm vào cuộc chiến này. Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, Tổng thống sẽ gặp nhiều khó khăn. Những lời cảnh báo của Dempsey đối với Obama về Quốc hội thật đáng khen ngợi. Gần 210 thành viên Quốc hội, bao gồm cả nghị sỹ đảng Cộng hòa và Dân chủ, đã ký vào một kiến nghị thư gửi đến Tổng thống Obama cảnh báo ông không nên tấn công Syria khi chưa được sự cho phép của Quốc hội Mỹ.
Tổng thống Obama đã quyết định tìm cách thông qua Quốc hội bỏ phiếu cho phép ông ta thực hiện hành động tấn công quân sự Syria . Các quan chức chính quyền Mỹ, trong đó có cả Ngoại trưởng John Kerry và Phó Tổng thống Joe Bidden, đã bắt đầu gặp gỡ các thành viên Quốc hội để thuyết phục họ bỏ phiếu chấp thuận thông qua kế hoạch hành động quân sự. Tổ chức vận động hành lang Israel – ủy ban các vấn đề Israel của Mỹ(AIPAC) – sử dụng sức mạnh chính trị to lớn của mình để buộc các thành viên quốc hội, vốn nhận được sự đóng góp đáng kể từ thành viên AIPAC trong các chiến dịch tranh cử, để số này ủng hộ kế hoạch hành động của Tổng thống Obama.
Tối ngày 1/9, tờ New York Times lần đầu tiên đăng tin về sự tham gia của lực lượng vận động hành lang trong Quốc hội Mỹ trong kế hoạch của Obama trên trang mạng trực tuyến của báo này. Theo nhận xét của New York Times, “một quan chức chính quyền, nhân vật này cũng như nhiều người khác, đã từ chối bình luận về chiến lược của Nhà Trắng”. Bài viết này cũng khẳng định AIPAC là một tổ chức hùng mạnh bất chấp lẽ phải và luật pháp cũng như những đồng minh của nó trong Quốc hội Mỹ: “Nếu Nhà Trắng không có khả năng bắt buộc người khác chấp thuận thực hiện giới hạn đỏ chống lại thảm họa sử dụng vũ khí hóa học thì chính chúng ta đang gặp rắc rối”. Tuy nhiên, bài viết sau đó nhanh chóng bị gỡ khỏi trang mạng của tờ báo.
Sự hào phóng hỗ trợ tài chính của AIPAC cho các thành viên của Thượng viện Mỹ đang được đáp lại bằng các tuyên bố lớn tiếng (của những người đã nhận khoản tiền tài trợ của AIPAC) về việc ủng hộ hành động quân sự chống Syria. Nói cách khác các thượng nghị sỹ đã nhận tiền quyên góp của AIPAC trong chiến dịch tranh cử vào chính trường Mỹ đang lên tiếng ủng hộ cho kế hoạch hành động quân sự của Obama. Người nhận khoản tiền cung cấp lớn của AIPAC từ năm 2006-2012 (khoảng 772.327 USD) chính là Thượng nghị sỹ John McCain, người đã bênh vực cho các phiến quân Syria, thậm chí là cả tổ chức Hồi giáo cực đoan như Mặt trận al-Nusra có liên hệ với Al-Qaeda. Một nhân vật nổi tiếng khác nhận tài trợ kinh phí đáng kể từ AlPAC là Thượng nghị sỹ đảng Dân chủ bang New Jersy Robert Menendez, người đã nhận quyên góp khoảng 343.394 USD từ tổ chức này. Menendez hiện là Chủ tịch ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ đã được Obama giao nhiệm vụ dẫn dắt Thượng viện thông qua Nghị quyết tấn công quân sự Syria của Nhà Trắng.
Những chính trị gia khác trong Chính quyền Obama như Rice, Power, Rhodes và Kerry, tất cả đều ủng hộ tấn công quân sự. Điều này đã khiến Dempsey nổi cơn thịnh nộ về cái cớ R2P mà số này viện dẫn để chi phối Hội đồng An ninh quốc gia. Nhiều tin tức đang lan truyền trong Bộ Ngoại giao về khả năng Obama có thể tấn công Syria mà không cần đến sự đồng ý của Quốc hội. Trong khi đó, Lầu Năm Góc lại chỉ ra rằng không ai trong Hội đồng an ninh quốc gia, kể cả Rice, Power, hay Rhodes có chút gì về kinh nghiệm quân sự và Kerry chỉ là kênh truyền tải mong muốn của người bạn tốt của ông ta là Thượng nghị sỹ Johm Me Cain, người liên tục ủng hộ các phần tử nổi dậy có quan hệ với Al-Qaeda ở Syria và Libya.
Obama đang phải đối mặt với thực tế nghiệt ngã. Một số quan chức hàng đầu tại Lầu Năm Góc không mấy hài lòng với chính sách của Obama trong vấn đề Syria, số này đã cảnh báo đến cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa về những bằng chứng hiện có đã chứng tỏ rằng Obama và Giám đốc Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA) John o.Brennan đã tự ý cho phép chuyển giao vũ khí cho các chiến binh của tổ chức nổi dậy Hồi giáo Ansar al Sharia tại Libya có liên hệ với Al-Qaeda và tổ chức Hồi giáo cực đoan Mặt trận al-Nusra tại Syria cũng có quan hệ với Al-Qaeda. Hành động này trong phạm vi nào đó là bất hợp pháp giống như vụ tai tiếng Iran-Contra. Tại thời điểm đó, theo luật pháp của Mỹ, việc bán vũ khí cho Iran, cung cấp tiền bạc cho lực lượng Contra là vi phạm pháp luật nghiêm trọng và Tổng thống Reagan hoàn toàn ủng hộ đạo luật này. Tuy nhiên, cũng chính Reagan đã vi phạm đạo luật đó khi cho phép tiến hành các thương vụ mua bán vũ khí bí mật giữa Mỹ và Iran. Ngay sau khi vụ việc bị bại lộ, những người liên quan, đa phần là các quan chức trong Chính quyền Reagan, đã bị bắt và kết tội, song Tổng thống lại thoát tội. Vụ việc này được xem là 10 sự kiện tai tiếng nhất trong lịch sử các đời tổng thống Mỹ. Và những tuyên bố mang tính xác thực trên của các quan chức quốc phòng Mỹ thực sự có thể mang tính buộc tội cao đối với Obama.
Khi những bằng chứng này được công bố, Obama và Brennan (nhân vật từng điều hành các chiến dịch liên quan đến Giám đốc cơ quan tình báo Saudi Arabia, Hoàng tử Bandar bin Sultan al Saud và Al-Qaeda), cá nhân cả hai nhân vật này đều hoàn toàn hiểu rằng vũ khí trong các kho tàng của chính quyền cựu Tổng thống Muammar Gaddafi của Libya đã được chuyển giao cho lực lực Al-Qaeda ở Syria để sử dụng trong các cuộc tấn công khủng bố. Và khả năng Obama cùng Brennan sẽ bị yêu cầu điều trần luận tội về hành động trên. Việc chuyển giao vũ khí trực tiếp liên quan đến vụ tấn công của các phần tử Hồi giáo cực đoan tại Libya vào chi nhánh của CIA ở Benghazi ngày 11/9/2012 là một sự kiện mà bản thân Obama không đủ khả năng tự tháo gỡ và thoát ra khỏi vấn đề này.
Bandar, nhân vật còn có biệt danh là “Bandar Bush” được chính các thành viên của gia đình Bush đặt cho vì ông ta có mối quan hệ mật thiết gần gũi với họ và tên khác nữa là “Bandar bin Israel” bởi vì ông ta có quan hệ chặt chẽ với Cơ quan tình báo Mossad của Israel. Là một nhân vật quan trọng, chủ chốt trong việc tìm cách lật đổ Chính quyền Assad ở Damascus, Bandar đang thực hiện một chính sách Arab đối với Syria, thay thế chính quyền Shiite của Assad bằng chính phủ cực đoan Sunni và sẽ hạn chế quyền lực của người Thiên chúa giáo, Alawite, Shiite, đặc biệt là cách thức điều hành, quản lý đất nước giống như mô hình Sunni Wahhabite đang thực hiện tại Saudi Arabia.
Một trong những lý do khiến Obama và đội ngũ cố vấn của ông ta đàn áp người tiết lộ thông tin động trời gần đây, Edward Snowden, theo cách hành xử chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Mỹ chính là nhằm hạn chế mối bất hòa, mâu thuẫn giữa các quan chức tình báo và quân sự mà có thể gây nên hậu quả nghiêm trọng với thông tin chi tiết về việc Obama (cũng giống như người tiền nhiệm của ông ta) đã tác động, thúc đẩy cơ quan tình báo dọn đường cho một cuộc chiến tranh. Trong trường hợp này, Cơ quan tình báo của Nhà Trắng đã cáo buộc Syria sử dụng vũ khí hóa học đơn giản chỉ dựa trên những bằng chứng và thông tin không mấy rõ ràng do Israel cung cấp. Nhiều thông tin cho thấy lực lượng nổi dậy tại Syria đã sử dụng vũ khí hóa học tại Damascus, Homs, việc họ sử dụng khí sarin và khí clo tại Homs đã bị che giấu. Đồng thời Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) và Cơ quan thông tin của Chính phủ Anh (GCHQ) đã tuyên truyền rằng Đơn vị 8200 của Israel, cơ quan chuyên thu thập và giải mã thông tin tình báo tín hiệu (SIGINT) có khả năng nghe lén và đánh cắp những thông tin liên quan đến quân sự được truyền đi giữa các tàu hải quân và máy bay trong vùng biển Địa Trung Hải, đã thu được tín hiệu thông tin tình báo trực tiếp phát đi từ chính chỉ huy lực lượng quân đội Syria đã ra lệnh tấn công bằng khí độc sarin vào Ghouta ngày 21/8.
Nhà Trắng đã tự thực hiện các chiến dịch truyền thông đưa tin sai lệch và dựa vào đó để lấy cớ tiến hành hành động quân sự nhằm vào Syria. Hãng thông tấn BBC đã bị phát giác việc sử dụng các hình ảnh thường dân thiệt mạng ở Iraq để đăng tải “những nạn nhân” trong cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học là do Chính quyền Assad thực hiện. Tương tự như vậy, Al Jazeera, hãng truyền thông thuộc sở hữu của Chính phủ Qatar đã trình chiếu hình ảnh “những nạn nhân của Chính quyền Assad” được quấn băng bó một cách giả tạo và máu nhân tạo của Hollywood.
Những quân nhân Mỹ hiểu rất rõ ràng Tổng thống Obama và đội ngũ cố vấn của ông ta đang nói dối một cách có hệ thống nhằm lôi kéo Mỹ sa lầy chiến tranh tại quốc gia Hồi giáo Syria. Và kết cục thảm bại đang chờ Obama cùng chính sách hiếu chiến quân sự của ông ta ở phía trước.
***
Cũng theo mạng ‘Tin Trung Đông”, Tổng thống Obama trong phát biểu vào ngày 31/8 đã khẳng định: “Giờ đây, sau khi cân nhắc mọi điều một cách cẩn thận, tôi đã quyết định Mỹ nên thực hiện hành động quân sự đối với Syria. Đây không phải là sự can thiệp không hạn chế về thời gian và lực lượng. Chúng tôi sẽ không đưa quân tham chiến trên chiến trường. Thay vào đó, hành động của chúng tôi đã được lên kế hoạch có giới hạn về thời gian và phạm vi. Tôi cũng vừa đưa ra quyết định thứ hai.”
Tuyên bố của Tổng thống Obama về quyết định “Mỹ nên thực hiện hành động quân sự đối với Syria” là điều đáng chú ý bởi nhiều lý do, đặc biệt là khi ông đi kèm với điều này bằng khẳng định sẽ “xin phép Quốc hội cho sử dụng vũ lực”. Yếu tố đáng chú ý đầu tiên là ông đã quyết định tấn công trước khi xin phép Quốc hội, thay vì hành động thực tế thông thường là bảo lưu đánh giá về khả năng thực hiện hành động quân sự cho đến khi quá trình này hoàn tất.
Điều phản biện tốt nhất ở đây chính là vào thời điểm khi Liên hợp quốc cùng nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế khác vẫn đang xem xét bằng chứng về việc sử dụng vũ khí hóa học (điều không thể phủ nhận) và ai là người đã sử dụng số vũ khí đó (cũng có thể là Chính phủ Syria) thì chờ đợi thêm một thời gian nữa không phải là điều gì xấu. Tổng thống Barack Obama che giấu được vấn đề trì hoãn tấn công bằng việc trích dẫn lời của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ như sau: “Vấn đề chúng ta thực hiện nhiệm vụ này không phải là thời điểm nhạy cảm. Hành động này có thể diễn ra hiệu quả vào ngày mai, vào tuần tới hay thậm chí vào tháng tới kể từ lúc này”. Sử dụng vấn đề thời gian là điều rất có ích, như là một điều giá trị trong cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ từ Quốc hội, đặc biệt khi ký ức của người dân Mỹ vẫn còn rõ nét về quá trình dẫn đến cuộc xâm lược Iraq do Mỹ lãnh đạo một thập kỷ trước đây cũng dựa trên các thông tin tình báo sai lệch được bổ sung, hỗ trợ thêm bằng quyết tâm từ các quan chức trong Chính quyền Bush và Anh.
Yếu tố đáng chú thứ ba là Tổng thống không đề nghị Quốc hội triệu tập vào ngày hôm sau hay hôm tiếp theo mà chờ đợi cho đến khi Quốc hội họp phiên trở lại vào ngày 9/9. Điều này tạo thêm thời gian cho Chính quyền Obama đệ trình kế hoạch lên trước Quốc hội, ủng hộ cho quyết định của Tổng thống khi ông Obama tuyên bố đã sẵn sàng hành động; nhưng nó cũng có nguy cơ làm giảm bớt tầm quan trọng của đội ngũ cố vấn và hoạch định chính sách của ông ta, nhất là Ngoại trưởng John Kerry, người đã cố gắng nỗ lực kiến tạo những hành động tàn ác được thể hiện trong những ngày vừa qua.
Một yếu tố có liên quan nữa là Mỹ sẽ không đủ khả năng để đáp trả một cuộc tấn công trả đũa trực tiếp nhằm vào công dân, binh lính Mỹ ở nước ngoài. Trong trường hợp Washington lãnh đạo hành động can thiệp quân sự thì ưu tiên số một không phải vì lợi ích quốc gia mà vì chính cái gọi là vai trò của Mỹ vốn được tung hô là “một quốc gia không thể thiếu trên thế giới”. Mọi thứ đã được làm sáng tỏ. Nếu Mỹ không hành động thì không ai sẽ chịu gánh vác trách nhiệm. Nhưng việc thiếu mối đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia Mỹ đã tăng cường động lực cho Tổng thống cần phải tạo ra vụ việc mà Mỹ cần phải hành động tiên phong đi đầu.
Sự cần thiết phải đệ trình kế hoạch tấn công quân sự trước Quốc hội đã bị chỉ trích kịch liệt ngay chính tại Mỹ khi trước đó Quốc hội Anh đã phủ quyết vai trò của London trong việc tham gia tấn công Syria, cho dù Thủ tướng Anh David Cameron và Ngoại trưởng William Hague đã gây sức ép để thực hiện hành động quân sự. Và điều này đã giảm thiểu cơ hội hành động cho Tổng thống Obama. Chắc chắn những gì diễn ra ở Quốc hội Anh đã tác động đến quyết định của Obama.
Yếu tố đáng chú ý tiếp theo (dù không mấy phải ngạc nhiên) là Chính quyền Obama rõ ràng từ bỏ ý định dựa vào Liên hợp quốc. Chắc chắn Nga và Trung Quốc sẽ phủ quyết bất kỳ nghị quyết nào kêu gọi sử dụng vũ lực mà Hội đồng Bảo an đưa ra, như những gì mà hai nước này đã hành động trước đó, và đến giờ cũng vẫn sẽ hành động như vậy khi Mỹ có gắng vận dụng sự công nhận của cộng đồng quốc tế, ít nhất cũng là cố gắng làm như vậy để thiết lập một cơ sở pháp lý quốc tế cho hành động quân sự, thậm chí ngay cả khi hành động đó không đạt được sự chấp thuận của Liên hợp quốc. Từng có tiền lệ cho cách thức hành động này là trong cuộc chiến tranh Kosovo vào năm 1998. Mỹ đơn phương thực hiện và chứng minh quan điểm đó bằng hành động tấn công Kosovo không cần đến sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an. Washington lần đầu tiên đã công khai “qua mặt” Liên hợp quốc, tìm cách khẳng định có thể tự giải quyết những vấn đề khủng hoảng trên thế giới mà không cần có sự tham gia của tổ chức này. Mỹ cũng lợi dụng cuộc chiến này để khẳng định “vai trò lãnh đạo” đối với châu Âu, nhất là trong bối cảnh sau khi Liên Xô tan rã, các đồng minh tại lục địa già bắt đầu tính đến việc thoát khỏi bóng của “chiếc ô ảnh hưởng của Mỹ”, triển khai những chính sách độc lập hơn với Washington. Điều này khiến cho từng nước thành viên NATO dễ dàng hơn trong việc tự quyết định cơ sở pháp lý dựa vào đó để chuẩn bị hành động.
Tuy nhiên, yếu tố đáng chú ý nhất trong tuyên bố của Tổng thống Obama là tiền lệ ông đang đặt ra để lôi kéo Quốc hội cùng đưa ra quyết định về việc sử dụng vũ lực, không phải thông qua hành động “tham vấn đơn thuần” mà là “cho phép chính thức”. Điều này sẽ đi vào lĩnh vực pháp lý và sẽ khiến nhiều nghị sỹ trong Quốc hội kỳ vọng rằng Obama (những người kế nhiệm tiếp theo của ông) cũng chứng tỏ sự tôn trọng như vậy đối với Quốc hội trong tương lai, điều mà thực tế nhiều thành viên Quốc hội thường yêu cầu.
Tuy nhiên, việc tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc hội cho phép sử dụng vũ lực chứ không phải tham vấn từ lâu đã trở thành ngoại lệ hơn là quy định. Nghị quyết chính thức cuối cùng của Quốc hội Mỹ về chiến tranh, được quy định trong Điều I Hiến pháp, là đối với Bulgaria, Romania và Hungary vào ngày 4/6/1942. Kể từ đó, thậm chí ngay cả khi bị lôi kéo thì Quốc hội Mỹ cũng chỉ thông qua các nghị quyết không ràng buộc hoặc chiếu theo quy định của Nghị quyết về quyền hạn chiến tranh tháng 11/1973 (War Powers Resolution). Đây là nghị quyết buộc Tổng thống phải tham vấn ý kiến của Quốc hội trước khi ra quyết định can thiệp quân sự. Đó cũng là nỗ lực của Quốc hội để giành lại một số quyền lực trên thực tế trong quyết định đưa lực lượng quân đội vào con đường nguy hiểm nhằm phản ứng hành động của Chính phủ Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Tháng 8/1964, dù nhận thấy “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” sẽ nới rộng một cách không cần thiết quyền lực Tổng thống, nhưng Thượng viện Mỹ đã thông qua nó tương đối nhanh, với đa số áp đảo 88/2. Hai phiếu chống là của các nghị sỹ Emest Gruening (Thống đốc bang Alaska) và nghị sỹ Wayne Morse (bang Oregon), đều thuộc Đảng Dân chủ. Trong hoàn cảnh hiện nay, tấn công quân sự chỉ diễn ra trong vài ngày thì những quy định này chắc chắn sẽ không thể thực hiện.
Có hai lý do cơ bản để ngăn chặn quy định của Hiến pháp về tuyên bố chính thức phát động chiến tranh. Thứ nhất, với một tuyên bố như vậy, một khi được đưa ra, sẽ rất khó để chấm dứt và có thể dẫn đến yêu cầu đầu hàng vô điều kiện (như Đức và Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ II), thậm chí ngay cả khi điều đó sẽ không vì lợi ích quốc gia, đặc biệt là trong chiến tranh Triều Tiên. Các lý do thuyết phục hơn để bỏ qua yêu cầu này là nhu cầu thực sự, trong thời gian Chiến tranh Lạnh, để cho Tổng thống đủ khả năng phản ứng gần như tức thì đối với cuộc tấn công hạt nhân vào Mỹ hay trong phạm vi hẹp hơn là ngăn chặn một cuộc tấn công quân sự thông thường đối với Mỹ và đồng minh ở châu Âu.
Khi Chiến tranh Lạnh trôi qua với “đống tro của lịch sử”, lập luận thứ hai này nên chỉ là mong ước khi nó đã bị chứng minh là không thể thực hiện được. Tổng thống được coi là có quyền sử dụng quân đội Mỹ, chiếu theo quy định trong Nghị quyết về quyền hạn chiến tranh mà chưa từng bao giờ được thử nghiệm. Nhưng tại sao lại như vậy? Thậm chí ngay cả khi vụ tấn công khủng bố xảy ra trên lãnh thổ Mỹ, Washington cũng không đáp trả ngay lập tức mà cần thời gian để xây dựng lực lượng và kế hoạch cần thiết để lật đổ chế độ Taliban ở Afghanistan và dù sao nếu Tổng thống George w. Bush được đề nghị vào ngày 12/9 về việc tuyên chiến thì chắc chắn ông ta cũng sẽ nhận điều đó từ Quốc hội mà nhiều khả năng sẽ là đồng thuận.
Do vậy, khi thời gian trôi qua, những gì mà ông Obama tuyên bố vào ngày 31/8/2013 có thể ít được nhớ đến hơn là những gì liên quan đến việc sử dụng vũ khí hóa học ở Syria và nhiều hơn nữa là nhũng gì về sự ngụ ý tái lập quá trình cân nhắc đầy đủ và chia sẻ trách nhiệm toàn diện với Quốc hội về các quyết định chiến tranh-hòa bình như thực tế lịch sử từng thực hiện cho đến năm 1950. Đề xuất này sẽ còn gây nhiều tranh cãi, và nó cũng nên được như vậy. Tuy nhiên, nếu tuyên bố của Tổng thống không trở thành tiền lệ (như đánh giá của tác giả bài viết mà nó nên là như vậy, trừ trường họp đặc biệt khi một phản ứng quân sự tức thì được thực hiện vì lợi ích an ninh quốc gia) thì Tổng thống sẽ thực hiện một hành động quan trọng và lâu dài đối với dân tộc, trong đó có cả bước đi tiềm năng đáng kể trong việc giảm sự quân sự hóa quá đà trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Và điều này cũng sẽ có thêm một lợi ích nữa: Hầu hết các thành viên quốc hội đều ít hiểu biết về thế giới bên ngoài và trong nhiều thập kỷ họ đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm pháp lý trong đưa ra tuyên bố chiến tranh. Vì vậy các thành viên này cần được cung cấp thông tin đầy đủ hơn trong một số quyết định sinh mệnh liên quan đến sự rủi ro sinh mạng của nhiều binh sỹ Mỹ.
***
Đối với Syria, không có nhiều lựa chọn tốt. Nhưng Tổng thống Mỹ đã chọn phương án tồi nhất.
Những rắc rối của cuộc xung đột Syria đã đụng chạm đến những lợi ích của Mỹ theo vô số cách khác nhau – những cách không nhất thiết phải gắn chặt với một phương hướng hành động nào. Có nhiều mục tiêu, và nhiều chiến lược có thể được áp dụng để đạt được những mục tiêu đó, và kết quả là có những lập luận hợp lý được đưa ra cho cả việc can thiệp và phản đối can thiệp vào Syria. Không may, điều duy nhất vô nghĩa lại là con đường mà Tổng thống Obama dường như quyết tâm theo đuổi.
Chính quyền Obama luôn nhấn mạnh những lập luận phản đối sự can thiệp. Tuy nhiên đồng thời, Obama cũng đòi hỏi Assad phải ra đi, đặt ra một giới hạn đỏ phản đối sử dụng vũ khí hóa học, và bật đèn xanh cho việc cung cấp vũ khí quy mô nhỏ và huấn luyện theo đơn vị nhỏ cho phe đối lập. Những hành động như vậy không nhất quán với nhau hoặc với bất cứ cách tiếp cận hợp lý mang tính chiến lược nào. Thay vào đó, chúng dường như là sản phẩm của một Nhà Trắng đang cố gắng theo đuổi cả hai cách.
Bởi vì Washington không sẵn sàng gắn giọng điệu của mình về mong muốn nhìn thấy Assad ra đi với hành động, thay vào đó họ tìm kiếm những cách thức ở ngoài lề – thậm chí chỉ mang tính giọng điệu – để tỏ ra như thể họ đang thực hiện một điều gì đó. Nhưng đó là điều tồi tệ nhất mà Mỹ có thể làm. Nó dẫn đến những biện pháp nửa vời chồng chéo lên nhau, khiến Mỹ ngày lún sâu vào các cam kết mà không tiến gần hơn tới việc đạt được bất cứ một mục tiêu ý nghĩa nào. Đây chính là kết cục của Mỹ ở Việt Nam.
Đơn giản là chính quyền phải lựa chọn một trong hai chiến lược tổng quát: không làm gì cả hoặc theo đuổi một cuộc can thiệp quyết đoán hơn nhiều những cuộc tấn công có giới hạn .
Những lý lẽ phản đối sự can thiệp
Những lý lẽ cho việc đứng ngoài vấn đề Syria hầu hết được đưa ra bởi chính bản thân chính quyền. Lý lẽ đầu tiên cho lập luận này là Mỹ không có những lợi ích sống còn tại Syria. Nhưng lập luận này cũng dựa trên nỗi lo sợ dễ hiểu rằng hầu hết các phương hướng hành động đều có thể dẫn đến một kết quả không mấy hấp dẫn. Hiển nhiên Assad là một bạo chúa hung ác và không thể để chế độ của ông ta giành lại quyền kiểm soát nước này, nhưng phe đối lập đang ngày càng bị chi phối bởi những người Hồi giáo cực đoan, những người rất có thể sẽ tàn sát cộng đồng Alawite, Druze, những người theo đạo Cơ đốc và các cộng đồng thiểu số khác nếu họ thắng thế. Đó không phải là điều gì đó Mỹ muốn ủng hộ. Hơn nữa, tất cả các dấu hiệu đều chỉ ra rằng nếu phe đối lập hiện tại đánh bại chế độ, các lực lượng dân quân cấu thành dường như ngay lập tức sẽ bắt đầu tàn sát lẫn nhau trong một cuộc đấu tranh nội bộ khác để giành quyền lực. Trên thực tế, cuộc xung đột này sẽ không kết thúc mà chỉ biến đổi. Đây là một kiểu đặc trưng trong các cuộc nội chiến, với các tổ chức ở Liban, Congo, Somalia và Afghanistan thường thay đổi các đối tượng mà họ chiến đấu – và do đó kéo dài sự đổ máu.
Hơn nữa, bất cứ sự can thiệp nào của Mỹ đều có thể đồng nghĩa với việc lặp lại những kinh nghiệm tại Iraq, như Tom Friedman đã ngay lập tức chỉ ra. Bất chấp những tuyên bố trái ngược, cuộc nội chiến Syria tương tự với cuộc chiến của Iraq năm 2006 một cách đáng lo ngại. Người ta có thể nói rằng “tin tốt” là với những bài học từ cuộc chiến tại Iraq (và Afghanistan), tại Syria, Mỹ có thể làm tốt hơn những gì họ đã làm tại Iraq. Mỹ có thể kết thúc cuộc chiến và bắt đầu một tiến trình chính trị mang tính xây dựng nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, theo lý lẽ hợp lý nhất, nỗ lực này sẽ vẫn đòi hỏi vài trăm nghìn binh lính hiện diện tại Syria trong 1 năm hoặc hơn thế, và giảm dần số lượng trong những năm tiếp theo, và hàng chục nếu không phải hàng trăm tỷ USD dành cho tái thiết quân sự và dân sự. Mặc dù không phải tất cả nhưng một số lượng binh lính và một số tiền đáng kể phải đến từ Mỹ – ít nhất là hàng chục nghìn binh lính và hàng chục tỷ USD. Và đây không phải là điều gì đó mà nhiều người Mỹ quan tâm hiện nay.
Lý lẽ ủng hộ sự can thiệp
Lý lẽ ủng hộ sự can thiệp vào Syria dựa trên 3 lập luận khác nhau. Đầu tiên là vấn đề nhân đạo. Hơn 100.000 người Syria đã thiệt mạng trong vòng 2 năm – đó cũng là con số người thiệt mạng trong cuộc chiến kéo dài gần 4 năm tại Bosnia, nơi mà những thiệt hại về người được đưa ra là lý do then chốt cho sự can thiệp của Mỹ và các cường quốc châu Âu. Số người thiệt mạng tại Libya thấp hơn con số đó rất nhiều khi Mỹ và NATO can thiệp vào nước này trong năm 2011 để ngăn chặn một thảm họa nhân đạo. Không có sự can thiệp quyết đoán của nước ngoài, cuộc nội chiến Syria có thể sẽ tiếp tục diễn ra ngoài tầm kiểm soát trong vòng nhiều năm, có lẽ thậm chí hàng thập kỷ, và có khả năng khiến có thêm hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Khoảng 1,5 triệu người Syria đã bỏ chạy sang các nước láng giềng và con số này đang ngày càng tăng và hàng triệu người phải rời bỏ nhà cửa trong nước. Trong khi hầu hết người Mỹ đều tin rằng Mỹ không có trách nhiệm can thiệp để ngăn chặn tất cả những thảm kịch nhân đạo, hầu hết mọi người lại tin rằng Mỹ nên can thiệp để ngăn chặn những thảm họa nhân đạo tồi tệ nhất, và nhiều người đã lập luận rằng Syria là trường hợp như vậy.
Lập luận thứ 2 xoay quanh vấn đề khủng bố. Những cuộc nội chiến giữa các cộng đồng thường cho ra đời các tổ chức khủng bố đáng sợ, và các tổ chức này tìm thấy những căn cứ và địa bàn thuận lợi trong các cuộc nội chiến. PLO, Hezbollah, Những con hổ giải phóng Tamil, Al-Qaeda, Lashkar-e-Taiba và vô số các tổ chức khác đều ra đời trong các cuộc nội chiến. Đặc biệt là AI Qaeda đã tham gia nội chiến tại Afghanistan, Iraq, Yemen, Sudan và hiện này là Syria – và đã sử dụng chúng như là nền tảng cho các hoạt động tại nhiều nơi, bao gồm cả kế hoạch chống lại Mỹ. Cuộc nội chiến Syria kéo dài càng lâu, vấn đề có khả năng càng trở nên tồi tệ hơn.
Cuối cùng, cũng có một lập luận địa chiến lược ủng hộ sự can thiệp. Mỹ không có những lợi ích chiến lược tại Syria, nhưng nước này lại có lợi ích ở hầu hết các nước láng giềng của Syria. Thổ Nhĩ Kỳ là nước đồng minh NATO. Iraq hiện là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ 2 trong OPEC, và cuộc nội chiến tại Iraq có thể đe dọa các nước sản xuất dầu mỏ như Kuwait, Iran và thậm chí Saudi Arabia. Jordan là một đồng minh yếu ớt, sự ổn định của nước này liên quan mật thiết đến Isarel, và Israel là đồng minh thân thiết nhất của Mỹ tại khu vực này. Các cuộc nội chiến như của Syria luôn gây ra những tác động gián tiếp, có thể làm mất ổn định các nhà nước láng giềng: những người tị nạn, những kẻ khủng bố, sự cấp tiến hóa người dân ở các nước láng giềng, sự lan rộng của chủ nghĩa ly khai, những trục trặc về kinh tế, và sự can thiệp của các láng giềng tự tỏ ra là thảm họa. Trong trường họp xấu nhất, những ảnh hưởng gián tiếp của các cuộc chiến nội chiến có thể gây ra nội chiến ở các nước láng giềng (như Liban đã làm với Syria và như Rwanda đã làm với Congo) hoặc có thể dẫn đến những cuộc chiến tranh khu vực (như Liban đã làm với Syria và Israel, và Congo đã làm với rất nhiều nước láng giềng của mình). Những tác động gián tiếp từ cuộc nội chiến Syria đang gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho tất cả các nước láng giềng và đe dọa sự ổn định của Liban, Iraq và Jordan. Cuộc chiến càng kéo dài, những tác động gián tiếp có khả năng sẽ ngày càng trở nên tồi tệ, và người ta có thể cho rằng tốt hơn hết nên chấm dứt cuộc nội chiến Syria trước khi nó khiến cho các nước láng giềng sụp đổ cùng với nó.
Tương tự như vậy, những lập luận phản đối sự can thiệp tạo nên một lý lẽ thuyết phục rằng nếu Mỹ có ý định can thiệp vào Syria, chỉ một cuộc can thiệp trên quy mô rất lớn mới có ý nghĩa. Họ nên làm một điều gì đó thật lớn lao, nếu không thì đừng can thiệp. Do những động lực phức tạp của các cuộc nội chiến giữa các cộng đồng nói chung và của Syria nói riêng, sẽ phải nỗ lực rất nhiều để kết thúc cuộc chiến – chứ chưa nói đến một kết thúc có lợi cho các lợi ích của Mỹ. Có những sự lựa chọn có thể đem lại kết quả ở Syria mà Mỹ không cần phải đưa bộ binh đến nước này nhưng chúng to lớn và dài hạn hơn những gì hiện nay chính quyền dường như sẵn sàng tính đến. Lựa chọn hứa hẹn nhất trong số đó là vũ trang và huấn luyện cho quân nổi dậy thông thường và chuyên nghiệp của Syria với vũ khí hạng nặng và một hệ thống chỉ huy truyền thống như Mỹ đã làm với người Croat trong cuộc chiến Bosnia (với chi phí khá thấp, mặc dù đây là nỗ lực chủ chốt và mất một vài năm để gặt hái được thành quả). Theo đuổi lựa chọn này ở Syria sẽ có được lợi ích bổ sung của việc thiết lập một tổ chức vững mạnh, phi chính trị, qua đó cộng đồng quốc tế có thể hỗ trợ nước này xây dựng một tiến trình chính trị mới.
Hãy lựa chọn một chiến lược, bất cứ chiến lược nào
Cái đến nay vẫn thiếu hụt nghiêm trọng là ý muốn chọn lựa. Đây là một sự lựa chọn khó khăn nhưng đó là lý do tại sao Mỹ cần một tổng thống: để đưa ra những kiểu lựa chọn khó khăn như vậy một cách chính xác.
Chính quyền cần phải lựa chọn một mục tiêu và phát triển một chiến lược thống nhất đề cố gắng đạt được mục tiêu đó. Và tất cả những quyết định tiếp theo liên quan đến Syria nên được đưa ra dựa trên cái nằm trong nhũng lợi ích lớn nhất của việc thúc đẩy chiến lược đó. Nếu tổng thống quyết định đứng ngoài cuộc chiến Syria, ông nên ngừng tuyên bố điều gì là chấp nhận được hay không thể chấp nhận được tại Syria và phát triển một chiến lược ngăn chặn những tác động gián tiếp khỏi cái dường như sẽ là một cuộc nội chiến Syria kéo dài. Đặc biệt, điều đó sẽ đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để những nguồn lực thực sự – thời gian, năng lượng, sức mạnh ngoại giao và thậm chí tiền bạc hay tài sản quân sự – để hỗ trợ tất cả các nước láng giềng của Syria; Tuy nhiên, nếu tổng thống quyết định can thiệp, ông cần nhận ra rằng có những lựa chọn có giới hạn có thể đáng để thử, nhưng những lựa chọn càng hạn chế, khả năng thành công càng thấp.
Đối với việc nên giải quyết vấn đề được cho là sử dụng vũ khí hóa học của Syria như thế nào, câu trả lời đó cũng nên xuất phát từ chiến lược mà Mỹ lựa chọn. Nếu Mỹ quyết định đứng ngoài, Mỹ nên đứng ngoài – và đưa ra một sự phản ứng rất có giới hạn, một phản ứng có thể dễ dàng kéo Mỹ vào sự can thiệp sâu hơn, sẽ hoàn toàn đối lập với cách tiếp cận đó. Nếu Mỹ quyết định can thiệp, Mỹ nên coi đây là cơ hội để gây tổn hại thực sự lên chế độ, đồng thời chứng minh việc hỗ trợ phe đối lập là đúng, theo cách sẽ đạt được tính hợp pháp quốc tế đáng kể.
Lựa chọn sai lầm duy nhất là coi thời điểm này bằng cách này hay cách khác không liên quan đến những mục tiêu và chiến lược lớn hơn của Mỹ tại Syria. Thật đáng buồn khi đó dường như là điều Mỹ đang thực hiện.
***
(Foreign Affairs – số 7-8/2013)
Và làm cách nào Washington có thể ngăn chặn điều đó?
Syria đang sụp đổ. Nỗ lực của chế độ cầm quyền nhằm thoát ra khỏi cuộc nổi dậy lớn nhất mà nó từng phải đối mặt đã khiến hơn 80.000 người thiệt mạng và làm khoảng một nửa trong số 22 triệu dân của Syria phải rời bỏ nhà cửa. Nếu số người chết hàng tháng hiện tại vào khoảng 6.000 người tiếp tục duy trì, vào tháng 8/2013 Syria có thể đạt một cột mốc kinh khủng: 100.000 người bị sát hại, một con số mà phải mất gần gấp đôi thời gian đó mới đạt được ở Bosnia đầu những năm 1990, Đó là tròn 2 năm sau khi Tổng thống Mỹ Barack Gbama tuyên bố rằng Tổng thống Bashar al-Assad cần phải “ra đi”.
Tuy nhiên, những sự so sánh với Balkan không đủ để mô tả cuộc khủng hoảng ở Syria. Mối nguy hiểm thực sự là đất nước này có thể sớm kết thúc giống Somalia hơn, nơi một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài hai thập kỷ đã xé nát nhà nước và tạo ra một nơi trú ẩn cho những kẻ tội phạm và khủng bố. Syria thực ra đã bị chia cắt thành 3 khu vực hầu như liền kề nhau. Trong mỗi khu vực, các tổ chức khủng bố mà Mỹ chỉ định hiện đang nổi lên. Chế độ vẫn thống trị ở miền Tây Syria, bộ phận của đất nước do thiểu số người Alawite chiếm ưu thế, mà gia đình Assad thuộc về nó; và những chiến binh tử Hezbollah, một nhóm Hồi giáo Shitte được Iran ủng hộ, thường vượt qua biên giới Liban ngày càng vô nghĩa để gia nhập các lực lượng của Assad tại đó. Trong khi đó, một khu vực chủ yếu là người Arab Sunni đã thuộc quyền kiểm soát của nhiều nhóm vũ trang đối lập khác nhau. Những nhóm này bao gồm Jabhat al-Nusra (cũng được biết đến là Mặt trận al-Nusra), một chi nhánh, của Al-Qaeda, gần đây đã kéo lá cờ đen của mình trên con đập lớn nhất Syria trên sông Euphrate. Ở miền Bắc của người Kurd, một nhánh địa phương của Đảng Công nhân người Kurd, hay PKK, hiểu chiến, nhóm đã thực hiện một cuộc chiến tranh du kích ỉâu dài chổng lại Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ, hoạt động một cách tự do.
Quan sát càng gần, bức tranh càng tồi tệ. Cuộc xung đột, có số người chết mỗi ngày hiện cao hơn lúc đỉnh điểm của chiến tranh Iraq, vào hăm 2007, đang nhanh chóng lan sang các nước láng giềng. Trại tị nạn Zaatari ở Jordan đã trở thành thành phố lớn thứ 4 của nước này (dân số 180.000 người), kéo giãn nguồn lực của vương quốc Hashemite và đe dọa sự ổn định của các tỉnh miền Bắc. Những người Liban dòng Sunni và Shitte, không lạ lẫm với những căng thẳng giáo phái, đang chiến đấu chổng lại nhau xuyên bờ Vực Bekaa ở Syria, và những cuộc đấu khẩu liên quan đến Syria thường nổ ra bên trong Liban. Thực tế ràng Liban, một đất nước nơi nhựng trại tị nạn người Palestine đồng nghĩa với khổ cực và chiến đấu, thậm chí đang dự tính xây các trại cho người người tị nạn Syria, bản thân nó là một dấu hiệu cho thấy tình hình đã tồi tệ như thế nào. Và e rằng chưa rõ điều này sẽ tác động đến Mỹ ra sao, Aỉ-Qaeđa ở Iraq, một tổ chức khủng bố mà Washington phải hy sinh rất nhiều xương máu và tiền bạc để tìm cách đánh bại, đã tìm ra một nơi chào đón chúna là Syria, tuyên bố vào tháng 4/2013 rằng tổ chức này đang tham gia cùng Jabhat al-Nusra để thành lập Nhà nước Hồi giáo Iraq và Cận Đông.
Thực tế rằng chế độ Assad được cho là đã chìm sâu vào kho vũ khí hóa học của mình – lớn nhất của khu vực – đã đưa cuộc khủng hoảng này lên vài bậc trong danh sách các vấn đề khẩn cấp của Nhà Trắng. Mặc dù các cuộc thăm dò dư luận cho thấy rằng người Mỹ thận trọng với sự can thiệp, việc tránh né vấn đề này tỏ ra ngày càng thiếu khả thi, khi tình hình ở Syria thay đổi từ một thảm họa nhân đạo phần lớn được kiềm chế thành một thảm họa chiến lược cho Mỹ và các đồng minh trong khu vực của mình. Một đất nước trong một khu vực có 65% trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh và 40% lượng khí đốt tự nhiên đang ở trên bờ vực trở thành một nơi trú ẩn vô pháp luật cho những kẻ khủng bố, nơi những vũ khí nguy hiểm đang bị sử dụng bừa bãi.
Dù thích hay không, câu hỏi mà Chính quyền Obama hiện giờ phải đối mặt không phải là làm nhiều hơn đế giúp giải quyết cuộc khủng hoảng mà là nào khi, như thế nào và với cái giá nào. Các quy tắc Las Vegas không áp dụng với Syria: điều xảy ra ở đó sẽ không dừng lại tại đó. Cuộc khủng hoảng người tị nạn lớn và mối đe dọa các vũ khí nguy hiểm có thể rơi vào tay những phần tử khủng bố – những kẻ thánh chiến cũng như những kẻ ly khai người Kurd – trực tiếp đe dọa đến an ninh của các đồng minh của Washington là Iraq, Israel, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ. Sự sụp đổ của nhà nước Syria đang trao sức mạnh cho các nhóm khủng bố và cuối cùng có thể mang lại cho chúng sự tự do để lên kế hoạch các cuộc tấn công quốc tế, giống như sự hỗn loạn của Afghanistan trong những năm 1990 đã mang đến cho Al-Qaeda. Khi cuộc khủng hoảng Syria trở nên phức tạp, có một điều rõ ràng: nó kéo dài càng lâu, mối đe dọa mà nó đặt ra càng lớn và càng khó để Mỹ có thể làm bất kỳ điều gì liên quan đến nó.
Để ngăn chặn sự sụp đổ của Syria và kiềm chế những mối đe dọa ngày càng phát triển nhanh của nó, Mỹ cần một đường hướng mới, một đường hướng bắt đầu bằng sự can thiệp quân sự một phần nhằm đưa tất cả các bên đến bàn đàm phán. Cách duy nhất Washington có thể giải quyết cuộc khủng hoảng là làm việc với người dân “bên trong Syria”, như Chính quyền Obama nhắc đến phe đối lập trong nước, thay vì không có họ, đó là tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Cái giá của việc không hành động
Đường hướng của Nhà Trắng đối với cuộc khủng hoảng Syria cho tới nay là từ trên xuống, dựa vào ngoại giao đế hất cẳng Assad và tạo ra không gian cho một thời kỳ quá độ hòa bình đến dân chủ. Nhưng việc đơn thuần thúc đẩy các bên đạt được một thỏa thuận chính trị khả thi đã trở nên ngày càng ít có khả năng thành công. Dàn xếp ngoại giao quốc tế đã thất bại phần lớn vì Washington và Moskva bất đồng về việc thời kỳ quá độ nên diễn ra như thế nào. Trong khi người Mỹ yêu cầu Assad và những người thân cận của ông phải rời Syria, Nga nhấn mạnh rằng ông, hoặc ít nhất chế độ, phải ở nguyên tại chỗ. Vì mục đích này, Moskva đã phủ quyết 3 nghị quyết của Hội đồng Bảo an về Syria do Mỹ hoặc các đồng minh của nước này tài trợ và bác bỏ hoặc cản trở vô số nghị quyết khác. Mặc dù hai nước gần đây đã thông báo các kế hoạch nhằm tổ chức một hội nghị quốc tế đế đối phó với cuộc khủng hoảng, cơ hội thành công của nó rất thấp căn cứ vào sự mơ hồ về kết quả cuối cùng của bất kỳ cuộc đàm phán nào giữa các bên tham chiến, sự thiếu cấp bách cả về phía chế độ lẫn phe đối lập đi đên một thỏa thuận chia sẻ quyền lực, và sự bất lực của Moskva và Washington trong việc đưa các bên đến bàn đàm phán.
Trong lúc đó, Washington đã tìm cách cô lập Damascus về ngoại giao; áp đặt một số lượng lớn các biện pháp trừng phạt về dầu mỏ, thương mại và tài chính nhằm vào chế độ này; giúp tổ chức một số nhóm đối lập chính trị bị chia rẽ và lưu vong vô vọng tham gia Liên minh Quốc gia các Lực lượng Cách mạng và Đối lập Syria; chìa tay giúp đỡ các nhà hoạt động dân sự ở Syria; và cung cấp 760 triệu USD viện trợ nhân đạo cho dân thường Syria. Lo ngại rằng các vũ khí của Mỹ có thể rơi vào tay những kẻ cực đoan, Mỹ đã ít nhiều phớt lờ phe đối lập vũ trang, phe trên thực tế đã thay thế các nhà hoạt động dân sự làm tiên phong cho nỗ lực lật đổ Assad hơn 1 năm rưỡi trước và đang kiểm soát những phần lãnh thổ rộng lớn ở nước này. Sự lưỡng lự của Washington đã khiến nhiều nhóm vũ trang tìm kiếm sự ủng hộ ở những nơi khác – gồm cả từ cá nhân các nhà tài trợ Salafi và thánh chiến ở Kuwait, Libya, Qatar và Saudi Arabia.
Chính quyền Obama đã gửi viện trợ phi sát thường nhỏ giọt, như thuốc men và các bữa ăn sẵn gần như hết hạn, cho Hội đồng Quân sự Tối cao nổi dậy, một đối tác vũ trang của Liên minh Quốc gia. Nhưng sự viện trợ không đáng kể này sẽ không khiến chế độ sụp đổ cũng như không mang đến cho Washington sự trung thành của phe đối lập. Mặc dù Nhà Trắng đã thông báo váo tháng 4/2013, với sự phô trương ầm ĩ, rằng họ sẽ gửi áo chống đạn và kính nhìn đêm cho những nhóm vũ trang được xem xét kĩ càng nhất định, dường như điều này sẽ là quá ít ỏi, quá muộn để lôi kéo phần lớn những người đang chiến đấu để lật đổ Assad. Mỗi tuần, người phản kháng ở những khu vực nhất định thường mắng mỏ Mỹ, và cụ thể là Obama, vì hầu như không giúp đỡ được gì người Syria trong lúc khó khăn. Một cuộc biểu tình như vậy, ở Kafr Nabl hồi tháng 4/2012, có một biểu ngữ phản kháng đặt câu hỏi liệu Obama có cần một nhiệm kỳ thứ ba để quyết định phải làm gì với Syria hay không, và nếu như vậy, liệu khi đó có còn người Syria nào sống sót hay không. Vì những người hiện đang nhằm vào chế độ sẽ có quyền chỉ huy ở những nơi các lực lượng của chế độ thất bại, Washington nên xem xét nghiêm túc sự oán giận ngày càng tăng của họ.
Đương nhiên, một điều mà Obama đã nhấn mạnh có thể khiến Mỹ can thiệp quân sự là việc Assad sử dụng vũ khí hóa học. Nhưng ngay cả tại đó, Washington đã do dự, đi ngược lại sự căm ghét sâu sắc việc can dự. Giới hạn đỏ của Obama về vũ khí hóa học đã thay đổi theo thời gian. Ban đầu, nó bao gồm bất kỳ “động thái hay việc sử dụng” những vũ khí như vậy. Sau đó, vào tháng 11/2012, nó thu hẹp xuống còn bao gồm chỉ việc sử dụng chúng, sau khi tình báo Mỹ phát hiện ra rằng chế độ đã nạp khí sarin vào các quả bom. Sau đó, vào cuối tháng 4/2013, chính quyền dường như cho rằng sẽ chỉ hành động để ngăn chặn “việc sử dụng có hệ thống” vũ khí hóa học và chỉ khi việc sử dụng chúng có thể được xác nhận chính xác (một đòi hỏi quá cao, trong điều kiện bản thân Washington không thể trực tiếp thu thập mẫu vật cần thiết để chắc chắn như vậy).
Chính phủ Mỹ nói họ muốn buộc Assad từ bỏ quyền lực và kiểm soát sự nổi lên của những phần tử cực đoan trong phe đối lập. Nhưng đường hướng hiện tại của nước này không đang đẩy xa được mục tiêu nào. Nếu Washington tiếp tục theo đuổi một dàn xếp do Liên Hợp Quốc làm trung gian với Nga trong khi để cho cuộc xung đột xấu đi, Moskva sẽ đánh mất khả năng của mình đưa chế độ đến bàn đàm phán về một sự chuyển giao quyền lực thực sự. Khi cuộc chiến tranh giáo phái đầy cay đắng tiếp tục, những người ủng hộ chế độ và những người Alawite sẽ có nhiều lý do hơn để lo sợ phải sống dưới quyền cai trị của người Sunni và sẽ ưa thích một nhà nước mini được tách ra hơn so với một dàn xếp chính trị – và do đó chống lại bất kỳ cuộc đàm phán nào. Trong khi đó, Mỹ sẽ mất mọi đòn bẩy ngoại giao mà nước này từng có trước các lực lượng đối lập, những người ngày càng cảm thấy rằng người Mỹ đã từ bỏ họ trong lúc khó khăn.
Một con đường tốt hơn tiến về phía trước
Cả công chúng Mỹ mệt mỏi vì chiến tranh lẫn phe đối lập Syria đều không muốn chứng kiến một cuộc xâm lược trên bộ với quy mô toàn diện của Mỹ nhằm lật đổ Assad và thành lập một chính phủ do Mỹ ủng hộ; cả hai lo sợ rằng một cuộc can thiệp lớn sẽ có nghĩa là lặp lại Iraq. Nhưng điều đó không có nghĩa Mỹ thiếu các lựa chọn. Washington nên theo đuổi một đường lối thận trọng nhưng quyết đoán, một đường lối nhằm ngăn cản Assad tự do sử dụng các vũ khí sát thương nhất của ông ta, thiết lập các khu vực an toàn cho dân thường ở các biên giới của Syria, và ủng hộ những thành phần đã được xem xét kỹ lưỡng trong phe đối lập vũ trang và dân sự bằng vũ khí, tin tức tình báo, viện trợ nhân đạo và viện trợ tái thiết. Mục tiêu cuối cùng (ngược lại với điểm khởi đầu, như Chính quyền Obama hiện ủng hộ) nên là các cuộc đàm phán, do Liên Hợp Quốc hoặc một bên khác đứng đầu, dẫn đến sự ra đi của Assad và tùy tùng của ông và sự tái thống nhất đất nước. Nếu Mỹ muốn một Syria thống nhất, ổn định và cuối cùng là dân chủ hơn – và có lẽ không còn liên minh với Iran – đây là cách ít tồi tệ nhất để đạt được điều đó.
Mỹ nên bắt đầu bằng việc ngăn chặn chế độ sử dụng những công cụ sát thương lớn nhất của họ, cụ thể là các tên lửa đất đối đất và vũ khí hóa học. Sự ngăn chặn như vậy sẽ đòi hỏi phải phá hủy những quả bom chứa khí sarin, mà theo tờ New York Times, được lắp đặt vào năm 2012 “gần hoặc tại” các căn cứ không quân của Syria. Việc phá hủy những quả bom này sẽ cho phép Washington đánh tín hiệu với Assad rằng việc chuẩn bị sử dụng các vũ khí tiên tiến của ông ta sẽ đi kèm với một cái giá phải trả. Điều này sẽ có thể làm giảm số người thiệt mạng và đem lại cho những người dân thường Syria bị vướng vào cuộc chiến ít lí do hơn để chạy trốn khỏi quê hương họ, do đó giúp ngăn chặn cuộc khủng hoảng người tị nạn. Tuy nhiên nếu Assad quyết định đánh cược, Washington nên khởi động những cuộc tấn công trên không chính xác, bằng tên lửa, hoặc có thể là máy bay không người lái để phá hủy hay vô hiệu hóa kho vũ khí hóa học còn lại của ông ta và những tên lửa có thể mang theo chúng. (Đương nhiên, quân Mỹ sẽ phải thận trọng hơn nữa để tránh làm hại dân thường với các vụ nổ hóa học gần đó.) Nếu quân đội Mỹ không thể xác định vị trí hoặc phá hủy những vũ khí nguy hiểm nhất của Assad, hoặc nhận định việc thử làm điều đó quá mạo hiểm, thay vào đó họ có thể tấn công các cơ sở chỉ huy và kiểm soát của Syria.
Thứ hai, để bảo vệ người Syria ở lãnh thổ do phe đối lập kiểm soát khỏi những cuộc tấn công bởi tên lửa Scud và máy bay chiến đấu cánh cố định của chế độ, Mỹ nên thiết lập các khu vực an toàn sâu 50 đến 80 dặm bên trong Syria dọc biên giới của nước này với Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ. Những người chỉ trích sự can thiệp thường coi ý tưởng thành lập một vùng cấm bay ở Syria là quá mạo hiểm đối với các phi công và máy bay của Mỹ tham gia. Nhưng một đường hướng có giới hạn tập trung vào những khu vực biên giới sẽ ít nguy hiểm hơn, vì các máy bay và tên lửa của chính phủ có thể bị bắn hạ bằng dàn tên lửa Patriot đặt ở Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ hoặc bằng máy bay hoạt động tại đó. Và các khu vực an toàn sẽ vẫn cho phép dân thường có chỗ ẩn náu cuộc tấn công của Assad, ngăn chặn người tị nạn tràn ngập các nước láng giềng, và cho phép cộng đồng quốc tế rót viện trợ nhân đạo trên một quy mô mà các tổ chức phi chính phủ địa phương không thể sánh bằng. Việc thành lập các khu vực an toàn này cũng sẽ tạo điều kiện cho các cuộc tấn công trên không hoặc bằng tên lửa của Mỹ vào đơn vị pháo binh gần đó – công cụ Ajssad lựa chọn để giết hại dân thường và là một phương pháp có thể để sử dụng vũ khí hóa học – và hệ thống phòng không. Nhưng những việc này cũng có thể được thực hiện từ bên kia biên giới.
Chắc chắn là Mỹ không thể bảo vệ các khu vực an toàn khỏi những cuộc tấn công trên bộ của các lực lượng của Assad. Nhưng bằng việc loại trừ mối đe dọa không kích, bất kể từ tên lửa hay máy bay, một vùng cấm bay từ xa có thể đem đến cho những người nổi dậy ở các khu vực này một cơ hội chiến đấu và không gian họ cần để bảo vệ dân thường trên thực địa. Tương tự, cách tiếp cận “từ bên kia biên giới” này sẽ không hiệu quả trong việc ngăn chặn thương vong dân thường như việc đưa máy bay của Mỹ đến Syria, nhưng nó sẽ mang lại ít hơn đáng kể rủi ro máy bay Mỹ bị bắn hạ bởi dàn pháo chống máy bay của Syria. Nếu cuộc xung đột xấu đi rõ rệt hoặc chế độ bắt đầu sử dụng vũ khí hóa học của mình trên quy mô lớn chống lại phe đối lập, Washington cũng sẽ có thể mở rộng các khu vực an toàn về phía trung tâm của đất nước và tạo ra một vùng cấm bay lớn hơn. Nhưng cả lựa chọn có giới hạn, từ xa lẫn một vùng cấm bay mở rộng có thể bị cản trở bởi việc đưa vào các hệ thống tên lửa chống máy bay S-300 tinh vi của Nga, thứ được cho là có thể hoạt động được ở Syria sớm nhất là vào tháng 8/2013 – một lần nữa làm nhớ lại nhũng cái giá của việc chờ đợi.
Thứ ba, Washington cần phải làm việc trực tiếp với các lực lượng đối lập trên thực địa ở Syria (trái với chỉ những người bên ngoài) để đẩy lùi các lực lượng của chính phủ, phân phát viện trợ nhân đạo và quan trọng nhất, kiểm soát ảnh hưởng ngày càng tăng của những kẻ cực đoan Hồi giáo. Điều này nên bao gồm việc cung cấp vũ khí cho các nhóm vũ trang đã được xem xét kỹ lường trên cơ sở thử nghiệm và sai sót, với việc Washington giám sát các quân đoàn sử dụng tin tức tình báo, quân nhu và vũ khí họ nhận được như thế nào. Viện trợ ban đầu nên được rót qua các nhân vật phi Salafi trong Hội đồng Quân sự Tối cao, như Đại tá Abdul- Jabhar Akidi, người đứng đầu Hội đồng Quân sự Cách mạng của Aleppo và ủy ban vũ trang của Mặt trận phía Bắc thuộc Hội đồng Quân sự Tối cao. (Chính thông qua Akidi mà Mỹ gần đây đã chuyển viện trợ phi sát thương của mình, gồm cả áo chống đạn.) Đồng thời, Washington nên khuyến khích các thành viên của Liên minh Dân tộc tiến vào các khu vực giải phóng và làm việc cùng với các nhóm vũ trang và các hội đồng địa phương đê xây dựng một bộ máy lãnh đạo chính trị vững vàng trên thực địa dựa trên những cuộc bầu cử địa phương.
Không việc nào trong số này yêu cầu phải đưa quân Mỹ đến thực địa để tấn công, nhưng nó có thể đòi hỏi người Mỹ phải thay đổi chiến lược. Mỹ nên ngay lập tức thành lập các văn phòng an ninh ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ và miền Bắc Jordan như những trung tâm dành để làm việc với phe đối lập Syria, bổ sung vào những thảo luận hiện đang diễn ra giữa Washington và một số người nổi dậy thông qua Skype và các chuyến thăm định kỳ của các quan chức Mỹ đến biên giới. Chừng nào mà sự an toàn của họ có thể được đảm bảo tốt một cách hợp lý, các nhà ngoại giao và quan chức tình báo Mỹ nên được đưa tới các khu vực an toàn mà Mỹ đã thiết lập ở Syria, với sự bảo vệ, để gặp gỡ trực tiếp các thành viên dân sự và vũ trang của phe đối lập, các nhà hoạt động và nhân viên cứu trợ. Việc thiết lập các mối quan hệ gần gũi với các bên tham gia ở Syria sẽ giải phóng Mỹ khỏi phải làm việc thông qua Qatar, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ, điều trong quá khứ đã đưa viện trợ đến nhầm chỗ; chẳng hạn, vũ khí của Croatia do Saudi Arabia mua hồi đầu năm 2013 đã được thấy thuộc quyền sở hữu của Jabhat al-Nusra. Một cách tiếp cận trực tiếp hơn được thừa nhận là sẽ gây ra rủi ro tới tính mạng của một số người Mỹ, do đó mọi sự đề phòng về an ninh có thể sẽ cần phải được thực hiện nhằm tránh một cuộc tấn công theo kiểu cuộc tấn công vào năm 2012 ở Benghazi làm Christopher Stevens, Đại sứ Mỹ tại Lybia, thiệt mạng.
Tuy nhiên, việc có mặt trên thực địa sẽ đáng với các rủi ro, cho phép Mỹ làm việc trực tiếp với các nhóm vũ trang Syria để kiềm chế chế độ Assad và cuối cùng gây ảnh hưởng lên đặc điểm của phe đối lập. Một cách để sử dụng tầm ảnh hưởng như vậy sẽ là quy định sự trợ giúp đối với các định hướng chính trị của những nhóm đối lập và sự tôn trọng của họ đối với quyền lãnh đạo dân sự và nhân quyền. Mỹ cũng nên tìm cách gây ảnh hưởng lên hoạt động chính trị Syria ở cấp địa phương để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn quyền cai trị ở các vùng lãnh thổ do quân nổi dậy nắm giữ. Một khi phe đối lập giải phóng hoàn toàn một khu vực, Washington nên yêu cầu bầu cử để chọn ra một ban lãnh đạo dân sự. Quá trình này sẽ giúp tránh được sự hỗn loạn khi chế độ sụp đổ và cho thấy thái độ và sự đồng cảm của địa phương, cho phép các quan chức Mỹ đánh giá tầm ảnh hưởng của các nhóm cực đoan khác nhau.
Những người phản đối việc gia tăng viện trợ của Mỹ cho phe đối lập thường chỉ ra các thành phần xấu xí hơn của nó, đặc biệt là đối với những chiến binh có liên hệ với Al-Qaeda. Nhưng chỉ bằng việc can dự Mỹ mới có thể định hướng phe đối lập và ủng hộ các lực lượng ôn hòa của họ. Mặc dù chủ nghĩa bài Mỹ đang phát triển trong những người nổi dậy, vẫn còn thời gian cho một chiến lược khởi đầu để giành lại niềm tin của họ. Điều này có thể đạt được thông qua việc ủng hộ các đội quân tự do, thế tục và dân tộc chủ nghĩa hơn và cô lập – và có thể là mở các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái chống lại – những lực lượng cực đoan từ chối chấp nhận nhà chức trách dân sự trong thời kỳ chuyển giao.
Với sự giúp đỡ của Mỹ, có lý do hợp lý để tin rằng những người ôn hòa trong phe đối lập có thể chiếm ưu thế. Về bản chất, cuộc cách mạng Syria là một cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa. Trong 3 dòng chính của phe đối lập – những người thế tục, những người Hồi giáo ôn hòa (gồm cả những người trong tổ chức Anh em Hồi giáo) và những người Salafi – hai nhóm đầu mang tính dân tộc chủ nghĩa hơn trong định hướng; mục tiêu của họ mang tính chính trị hơn là tôn giáo, và các nghị trình của họ không vượt ra ngoài Syria. Một vài nhóm Salafi và cực đoan, như Jabhat al- Nusra, có các mục tiêu xuyên quốc gia, như thành lập một nhà nước Hồi giáo hay một vương quốc Hồi giáo vượt ra ngoài biên giới hiện tại của Syria. Lý do chính của việc những nhóm như vậy đóng một vai trò lớn trong phe đối lập là các lực lượng chống Assad đã phải quay sang các nhà nước vùng Vịnh để có được vũ khí và tiền bạc – và các nguồn lực tại đó đã ủng hộ người Salafi, mà theo một số ước tính chiếm đến 1/4 tổng số chiến binh trong phe đối lập. Mỹ có thể có được tầm ảnh hưởng mà nước này tìm kiếm bằng việc cung cấp tin tức tình báo, huấn luyện quân sự và vũ khí của riêng mình.
Một yếu tố khác sẽ có thể kiềm chế tầm ảnh hưởng của những phần tử cấp tiến trong phe đối lập là sự đa dạng của cộng đồng Sunni của Syria và sự khoan dung mang tính lịch sử của nước này với các cộng đồng thiểu số. Người Sunni ở Syria, chiếm đa số trong phe đối lập, từ lâu đã được nhận diện bằng với khu vực hay bộ lạc của họ thay vì tôn giáo của họ. Trong khi những người Salafi đã có thể giành được một sự ủng hộ nào đó ở vùng Tây Bắc bảo thủ về tôn giáo, những người Sunni ở Damascus ôn hòa hơn, hòa hợp với văn hóa trọng thương của thành phố họ. Ở miền Nam và miền Đông, các chi nhánh với những gia đình hay bộ lạc lớn, thậm chí cả những chi nhánh mở rộng vào tận Iraq, có xu hướng có ý nghĩa nhiều nhất. Điều này có nghĩa là những hành động tàn bạo do tôn giáo thúc đẩy chống lại các cộng đồng thiểu số trên khắp Syria không phải là không tránh khỏi và người Sunni sẽ cần phải học cách làm việc với nhau cũng giống như với những người không theo dòng Sunni. Chắc chắn là vai trò nổi bật của những người Alawite trong chiến dịch của chế độ có thể dẫn tới sự trừng phạt ở những khu vực mà các lực lượng của Assad rút lui. Nhưng cho tới nay, hầu như không có trường hợp nào đáng chú ý liên quan đến với các lực lượng đối lập sát hại hàng loạt dân thường thiểu số. Một nước Mỹ tích cực hơn có thể giúp duy trì điều đó, bao gồm cả bằng việc nhấn mạnh rằng phe đối lập phải tuân theo nhũng nguyên tắc hành động nhất định để nhận được viện trợ của Mỹ.
Cuối cùng, sau khi gia tăng can dự của mình, Washington nên tìm kiếm những cuộc đàm phán giữa chế độ và các lực lượng đối lập ôn hòa, được tài trợ hoặc bởi Liên hợp quốc hoặc, do thành tích nghèo nàn trong quá khứ của Liên hợp quốc, một bên khác, như Thụy Sĩ hay Na Uy. Thời gian của những cuộc đàm phán như vậy, thứ sẽ cần phải theo sau một lệnh ngừng bắn, phần lớn sẽ phụ thuộc vào diễn biến của cuộc chiến và khi mà Nga và Mỹ có thể có một tầm nhìn chung về quá trình chuyển giao và hiểu được cách đạt tới điểm đó. Chỉ bằng việc nâng cao những phí tổn của sự không khoan nhượng về ngoại giao đối với cả Chính phủ Syria lẫn Nga, với một sự thể hiện ủng hộ rõ ràng của Mỹ dành cho phe đối lập, Washington mới có thể thuyết phục Kremlin đóng một vai trò mang tính xây dựng hơn trong giai đoạn cuối của cuộc xung đột. Bằng việc làm nghiêng cán cân trên thực địa về phía phe đối lập, Washington có thể thuyết phục chế độ – hoặc ít nhất những nhà bảo trợ của nó ở Moskva – rằng cuộc xung đột sẽ không kết thúc chỉ bằng vũ lực. Hơn nữa, sự ủng hộ gia tăng như vậy của Mỹ đối với phe đối lập sẽ đem đến cho người Mỹ nhiều đòn bẩy hơn để đưa những người nổi dậy đến bàn đàm phán.
Trước hết, bất kỳ cuộc đàm phán nào củng sẽ phải tập trung vào việc buộc Assad, các lãnh đạo an ninh của ông, và các tướng lĩnh hàng đầu của ông phải từ chức và rời khỏi đất nước. Mục tiêu cuối cùng sẽ là tái thống nhất đất nước trong một cấu trúc dân chủ và phân quyền công nhận những khác biệt trong khu vực. Nhưng ở những khu vực của đất nước ít mang tính đồng nhất về sắc tộc hơn, như tỉnh Homs, các tỉnh có thể bị chia ra theo manatiq (hạt) hoặc nahawi (thị trấn). Bất chấp những thay đổi như vậy, việc duy trì các tỉnh như những khối xây dựng nên một hệ thống dân chủ sẽ nhấn mạnh chủ nghĩa khu vực trước các bản sắc giáo phái, khuyến khích tất cả người Syria làm việc cùng nhau hướng về sự hòa giải khu vực và cuối cùng là dân tộc.
Việc củng cố trật tự này sẽ đòi hỏi Washington phải buộc Qatar, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ chấm dứt sự ủng hộ đối với các “chư hầu” của họ ở Syria, như tổ chức Anh em Hồi giáo và các nhóm Salafi, để ủng hộ các đại biểu được bầu lên của địa phương và khu vực. Các nước này chắc chắn sẽ quyết tâm tiếp tục ủng hộ các mặt trận chính trị ưu tiên ở Syria, nhưng Washington nên thúc đẩy họ công nhận rằng đường hướng này đã thất bại trong việc lật đổ Assad và cho phép gia tăng các bên tham gia phi nhà nước nguy hiểm. Mỹ hiện có một cơ hội để đóng vai trò mà các nước đã đòi hỏi ở nước này ngay từ ngày đầu của cuộc khủng hoảng: dẫn đầu một liên minh nhằm loại bỏ chế độ Assad và đưa Syria ra khỏi quỹ đạo của Iran. Để đổi lại, Washington nên làm rõ rằng Mỹ mong đợi sự hợp tác của họ.
Chấm dứt đổ máu
Việc đi những bước này sẽ giúp Washington kiềm chế hành vi của Assad, giải quyết một cuộc khủng hoảng nhân đạo ngày càng cấp bách, định hướng phe đối lập rời rạc của Syria, và giữ cho cuộc xung đột không vượt ra ngoài biên giới Syria. Nó cũng sẽ mang tới cho Mỹ một cơ hội để ngăn chặn sự chia rẽ Syria – một điều chắc chắn xảy ra trong ngắn hạn – trở thành một hiện thực lâu dài. Việc duy trì sự toàn vẹn của Syria là cần thiết để ngăn chặn các vũ khí nguy hiểm và các vấn đề của nước này, mà chắc chắn sẽ còn tiếp tục trong một thời gian, khỏi ảnh hưởng đến các nước láng giềng. Một cuộc nội chiến giáo phái kéo dài có nguy cơ trở thành một cuộc chiến mượn tay kẻ khác lớn hơn giữa Iran và các cường quốc Sunni, điều sẽ tàn phá toàn bộ khu vực.
Phần lớn điều Washington dự tính ở Syria có thể không diễn ra theo kế hoạch. Những viên đạn của Mỹ có thể nằm trong những khẩu Kalashnikov của người Salafi, và các đài radio của Mỹ có thể rơi vào tay những kẻ rao giảng lòng căm thù. Bạo lực và các cuộc thảm sát có thể trì hoãn hoặc ngăn cản các cuộc bầu cử ở một số khu vực. Và cuộc xung đột có thể tiếp tục là một sự bế tắc trong nhiều năm tới, với việc không bên nào giành được lợi thế quyết định. Cam kết của Mỹ đối với bất kỳ khía cạnh nào của kế hoạch không nên có kết thúc mở, và Washington sẽ cần phải đánh giá liên tục mình đang đạt được những mục tiêu này tốt như thế nào.
Bất chấp nhiều rủi ro, sẽ là rất quan trọng đối với Mỹ trong việc tiếp tục giúp đỡ các thành phần của phe đối lập Syria trên thực địa lên nắm quyền – và không nỗ lực trao quyền lực cho những người lưu vong hứa hẹn nhiều điều nhưng trên thực tế thực hiện rất ít. Với mức độ sụp đổ của Syria và tầm quan trọng chiến lược của nước này, việc chờ đợi một cách thụ động là lựa chọn tồi tệ nhất. Việc thiết lập một mối quan hệ vững chắc hơn với phe đối lập là điều sẽ cho phép Mỹ định hình một kết quả tốt nhất giữa các bên tham chiến phù hợp với những lợi ích của mình và những đồng minh của nước này cũng như mang đến một tương lai tốt đẹp hơn cho người dân Syria.
Nguồn:
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt), Thứ Tư, ngày 25/9/2013