Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Mỹ có thể tấn công Syria vào ngày mai và trong 3 ngày

(Dân trí) - Các quan chức cấp cao của Mỹ ngày 27/8 cho biết trên kênh NBC rằng, Mỹ có thể tấn công tên lửa Syria trong 3 ngày, có thể bắt đầu vào thứ năm 29/8, và cuộc tấn công này là nhằm gửi tới Tổng thống Assad một “thông điệp” chứ không hoàn toàn lật đổ hay đánh bại đội quân của ông.
Mỹ có thể tấn công Syria vào ngày mai và trong 3 ngày
Hàng ngàn người đã thiệt mạng kể từ khi xung đột tại Syria bùng phát.
Bộ Ngoại giao Mỹ trong những ngày qua được cho là đã “gióng hồi chuông” trên khắp thế giới về khả năng dùng phản ứng quân sự trước việc Syria bị tình nghi dùng vũ khí hóa học chống phe nổi dậy vào ngày 21/8 vừa qua ở gần thủ đô Damascus. Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay, mặc dù cộng đồng tình báo Mỹ sẽ ra đánh giá chính thức trong tuần này, nhưng “đã rõ như ban ngày” rằng chính phủ của ông Assad phải chịu trách nhiệm cho vụ tấn công.
Phó tổng thống Mỹ Biden thậm chí còn đi xa hơn, khi nói thẳng với Liên đoàn châu Mỹ ở Houston rằng: “Vũ khí hóa học đã được sử dụng”. “Không còn nghi ngờ gì về người chịu trách nhiệm cho vụ sử dụng vũ khí hóa học tàn ác này ở Syria: chính quyền Syria”, ông cho hay.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Jay Carney hôm qua tái khẳng định Nhà Trắng sẽ không xem xét lật đổ ông Assad. “Lựa chọn chúng tôi đang xem xét không phải là thay đổi chế độ, mà là phản ứng đối với sự vi phạm rõ ràng một tiêu chuẩn quốc tế, đó là cấm sử dụng vũ khí hóa học”.
Tuy nhiên, Thượng nghị sỹ John McCain, nhân vật có tiếng nói trong các vấn đề quân sự, đã hối thúc chính quyền Obama tiến xa hơn, kêu gọi Mỹ và đồng minh cung cấp vũ khí cho “lực lượng phản kháng trên mặt đất”.
Lên kế hoạch tấn công 3 ngày
Các quan chức cấp cao Mỹ cho biết với hãng tin NBC rằng kế hoạch của Bộ Quốc phòng Mỹ đã tiến xa tới mức họ đã ước tính tấn công Syria trong 3 ngày. Sau đó, các nhà chiến lược có thể đánh giá tình hình và mục tiêu bị trượt sẽ bị tấn công trong vòng tiếp theo.
Và gần như chắc chắn Mỹ sẽ tiến hành các vụ tấn công tên lửa từ các tàu khu trục hoặc tàu ngầm hải quân ở Địa Trung Hải. Trong những ngày gần đây, Mỹ đã di chuyển các tàu khu trục tới gần Syria, quốc gia nằm ở rìa đông Địa Trung Hải. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là cuộc di chuyển mang tính tượng trưng, bởi tên lửa Tomahawk của Mỹ chính xác tới nỗi không chỉ có thể bắn trúng mục tiêu là các tòa nhà mà còn trúng từng cửa sổ. Các tên lửa này có thể bắn trúng các mục tiêu ở Syria từ xa phía tây Địa Trung Hải.
Giới chức hải quân Mỹ cũng cho biết 4 tàu khu trục đã xếp hàng để sẵn sàng tấn công. 4 tàu này gồm USS Barry, USS Mahan, USS Ramage và USS Gravely.òn
Hôm qua, tàu khu trục có tên lửa dẫn đường thứ tư USS Stout cũng đã tiến vào Địa Trung Hải, qua Straights of Gibraltar, mặc dù giới chức trách Mỹ cho biết tàu sẽ không tham gia tấn công tên lửa. “4 tàu khu trục đang sẵn sàng đã có thừa đủ tên lửa hành trình” một quan chức cho hay.
Phan Anh
Theo NBC
Nguồn:http://dantri.com.vn/the-gioi/my-co-the-tan-cong-syria-vao-ngay-mai-va-trong-3-ngay-772301.htm 

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

NƯỚC MỸ VÀ SỰ HÌNH THÀNH TÍNH CÁCH MỸ

ThS. Trịnh Sơn Hoan
Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
Trong bài viết này, tác giả đã nêu và phân tích khái quát quá trình hình thành, phát triển của nước Mỹ từ khi châu Mỹ được phát hiện, nước Mỹ ra đời và phát triển bởi những cuộc di dân. Chính lịch sử di dân đã làm cho nước Mỹ mang trong mình bản sắc hết sức độc đáo. Đồng thời, tác giả đã cho thấy hình ảnh một nước Mỹ đa sắc tộc nhưng được hòa trộn thành một sắc tộc mới. Bên cạnh đó, các khía cạnh văn hóa, tín ngưỡng, triết học,… cũng được tác giả phân tích với tư cách những cơ sở góp phần làm nên tính cách Mỹ.
Năm 1492, việc Christopher Columbus (1451-1506) phát hiện ra châu Mỹ là một sự kiện lớn trong lịch sử phát triển nhân loại. Đây được xem là một trong những thành tựu có vai trò làm biến đổi thế giới. Kể từ khi châu Mỹ (đặc biệt là Bắc Mỹ) được định vị trên địa cầu, người ta dần dần phát hiện thấy tiềm năng dồi dào của vùng đất này và những cuộc di dân đến đó cũng bắt đầu diễn ra một cách ồ ạt. Vậy, điều gì đã hấp dẫn nhiều người đến đất Mỹ để lập kế sinh nhai?
Mỹ là nơi “có khí hậu ôn hoà của các nước Pháp, Tây Ban Nha hay ý ở các bang phía Bắc, và gần như á nhiệt đới của nước Maroc hay miền Nam Algérie, ở các bang phía Nam”. Và “dĩ nhiên các khí hậu này còn chịu ảnh hưởng của các dòng Đại Dương, của thiên nhiên và độ cao của địa thế, của các hồ lớn, của chế độ gió. Chẳng hạn, mùa đông ở Minnesota thường lạnh hơn ở Lorraine hay ở áo tuy gần như cùng vĩ tuyến. Có điều chắc chắn là: Không cực nóng và cũng không cực lạnh, khí hậu Hoa Kỳ là một thứ khí hậu lành và tăng lực, khuyến khích làm việc và đã đem lại những phần thưởng to lớn cho những người di dân châu Âu. Những người di dân này trong suốt ba thế kỷ đã kéo tới đây – thoạt đầu theo từng nhóm nhỏ, kế đó với số lượng lớn – để phát huy niềm tin tôn giáo, trí tuệ và bắp thịt của họ, lòng yêu thích sống tự do và ước muốn sống thoải mái”([1]). ở Mỹ, “có những ngọn núi cao, những cánh đồng lúa phì nhiêu, bằng phẳng; có cả sa mạc khô cằn, có những vùng nhiệt đới xanh tốt, có những cánh đồng cỏ bao la, có dải bờ biển lởm chởm và có cả những ngọn đồi nhấp nhô”([1]). Bên cạnh đó, ở Mỹ, trong lịch sử người ta không quên rằng “vàng trộn với đất” mà bản thân người da đỏ ở đây không hề biết đến giá trị của nó.
Có nhiều nguyên nhân tạo nên kết quả di cư đến nước Mỹ, nhưng theo Cố Tổng thống J.Kennedy, chủ yếu: “do ba áp lực chính: sự khắc nghiệt của tôn giáo, áp lực chính trị, khó khăn về kinh tế là những nguyên nhân chính của sự di dân hàng loạt”(3) đến vùng đất này. Tuy nhiên, khi nói đến hệ quả của những cuộc di cư đến nước Mỹ thì vấn đề được truy xét không chỉ dừng lại ở mặt định lượng, mà còn là vấn đề định tính của nó. Bởi lẽ, di dân không chỉ mang theo số lượng con người đến Mỹ, mà còn mang theo cả văn hoá của khắp mọi nơi trên thế giới đến vùng đất này. J.Kennedy đã dẫn lại lời của nhà thơ Walt Whiteman (1819 – 1892) rằng, “chúng ta là một dân tộc gồm nhiều dân tộc”(4). Vì thế, trong hành trang của mỗi người di cư đến đây đều ít nhiều mang trong đó bản sắc văn hoá riêng của dân tộc họ. Đây là những cái riêng phong phú, đa dạng góp nhập vào kho tàng Mỹ để làm nên bản sắc Mỹ.
Thế hệ đầu tiên của nước Mỹ là những con người can đảm phi thường từ khắp các châu lục, đó là những con người có ý chí mạnh mẽ, dám dứt bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình để bước chân đến một vùng đất hoàn toàn mới lạ. Người Tây Ban Nha là những người đầu tiên đặt chân tới nước Mỹ, tiếp đến là người Pháp, người Hà Lan, người Thuỵ Điển,… Người Anh đến nước Mỹ chậm hơn nhưng lại không phải “uống nước đục”. Họ dần dần chiếm ưu thế và làm bá chủ nơi này.
Những con người thuộc thế hệ đầu tiên của nước Mỹ đều giống nhau ở một điểm là: “phóng thích mình ra khỏi sự ràng buộc về đạo đức, có tinh thần tiên phong, dám mạo hiểm, dám hy sinh, có niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Người ta thừa nhận, “kỷ nguyên của Jackson tháo vát và ít quan tâm đến nghệ thuật nhưng giỏi xoay sở để có thể hoàn thành tốt những gì mà mình tiến hành. Người Mỹ trên vùng biên giới mới này đôi khi là cả những người quê kệch, thô lỗ nhưng họ là những người làm việc có hiệu quả, sản xuất giỏi, có đầu óc thực tế hướng về tương lai và đoàn kết gắn bó với nhau”(5). Trong so sánh, nhà văn Mark Twain (1835 – 1910) đã chỉ ra rằng, tính cách người Âu bảo thủ, còn người Mỹ thì thực dụng. Ông còn mô tả người Anh là “người làm những gì đã từng làm”, và người Mỹ là “người làm những gì mà họ chưa bao giờ làm”(6).
Từ rất sớm, những cư dân xây dựng nước Mỹ đã xác định phương hướng sinh tồn cho mình. Trước mắt, để có thể “tồn tại”, họ phải “rũ bỏ” lại đằng sau ý thức hệ phong kiến châu Âu. Đối với họ, đó là truyền thống không còn phù hợp với không gian sinh sống mới. Những luân lý trong quan hệ giai cấp mà phong kiến châu Âu tạo ra đã trở thành một món ăn tinh thần tẻ nhạt và cần phải được thay thế bằng một thứ khác. ý thức hệ được xây dựng một cách hào hứng, cả cộng đồng người Mỹ mới đồng tình xây dựng một phong thái tinh thần mà trong đó họ cảm nhận được sức sống mạnh mẽ, đủ lực để xóa bỏ trạng thái sống cũ kỹ của văn hoá truyền thống châu Âu.
ở Mỹ, có một khái niệm văn hoá đã thành văn: “Nồi hầm nhừ” (Melting-pot). Với người Mỹ, ai cũng hiểu điều này. Đó là, tất cả mọi thứ đều được cho vào “nồi nấu” để nấu cho nhuyễn, hoặc có thể hiểu nó là một nơi mà ở đó những con người, những nền văn hoá và tư tưởng các loại đan xen lẫn nhau. Ai xứng danh là một người Mỹ, thì người đó phải hấp thu một cách tất yếu những giá trị văn hoá khác nhau, và sự hấp thu của họ góp phần hình thành nên phong cách Mỹ. Crèveoeur (1735 – 1813), năm 1782 đã nói rằng, “những cá nhân thuộc đủ các dân tộc trà trộn nhuần nhuyễn thành một chủng tộc mới, và từ đó sẽ xuất hiện con người mới nhiều đặc điểm”(7). Về sau, năm 1908, Zangwil (1864 – 1926) đã cụ thể hóa bằng vở kịch “Nồi hầm nhừ” (The melting – pot) tại Washington, nhằm tôn vinh lãnh địa trú thân của những người biệt xứ và ca ngợi sự hoà hợp về hôn nhân giữa những con người thuộc các dân tộc khác nhau. Và, càng tiến gần đến sự phồn thịnh của nền văn minh công nghiệp thì tính chất của “Melting – pot” càng được trộn nhuyễn vào mọi góc cạnh của đời sống. Nhà công nghiệp Ford đã chuyển tải tinh thần “Nồi hầm nhừ” của người Mỹ bằng hành động đầy tự hào trong một buổi trao thưởng cho công nhân như sau: “Trước một màn sân khấu vẽ một chiếc tàu buông neo ở bến cảng nơi người nhập cư đổ bộ, có đặt một chiếc lò lớn được nối vào tàu qua một chiếc cầu nhỏ. Hơn hai trăm thanh niên từ tàu lên chui vào lò, lúc bước ra mặt mày rạng rỡ, phấn khởi vì đã trải qua quá trình “tôi luyện” để trở thành người Mỹ. Trước khi bước vào lò, những thanh niên ấy đã vứt lại quần áo rách bẩn của người di cư, và họ ra khỏi lò với những bộ quần áo mới. Hàng nghìn khán giả theo dõi. Người ta hỏi học viên ở lò ra: “Bạn có phải là người Mỹ – Ba Lan hay người Mỹ – ý không?” Họ trả lời: “Không! Tôi là người Mỹ”(8).
Trong cuốn “Văn minh Hoa Kỳ”, Jean Pierre Fichou viết: “Làn sóng di dân vào Mỹ vừa nhiều vừa liên tục, chỉ nhất thời bị biến loạn vào những thời kỳ khủng hoảng, suy thoái kinh tế ở các nước có di dân, hoặc trái lại, do có sự vẫy gọi của tân thế giới. Hệ quả đầu tiên là sự muôn hình, muôn vẻ của các cội nguồn sinh học và văn hoá. Những cuộc hôn nhân giữa những người dân tộc khác nhau đã góp phần rất lớn vào thành công của “Melting – pot”: Người Ariang, Do Thái, da đen, da vàng trộn lẫn với nhau, dù rằng cho tới gần đây những cuộc hôn nhân ấy hãy còn hiếm. Con cái những cặp vợ chồng đó tiếp nhận hai dấu ấn văn hoá của bố và mẹ, cộng với dấu ấn của môi trường xã hội, nhất là trường học. Tiếng Anh nhanh chóng trở thành sợi dây liên kết bền vững. Sự pha trộn bẩm sinh ấy hẳn là nguồn gốc của tinh thần bao dung, trí óc cởi mở, yêu thích những tình thế quá độ. Cũng có thể tìm thấy ở đó nguyên nhân sự ít quan tâm đến quá khứ, hướng nhiều vào tương lai”(9).
“Nồi hầm nhừ” đối với người Mỹ là một huyền thoại. Nó khảm sâu vào tâm trí người Mỹ một ước mơ, một khát vọng rũ bỏ sự “rác rưởi” để khoác lên mình ánh hào quang của sự giàu có. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là ước vọng mang tính lý tưởng hoá đôi khi dùng để cổ vũ hoặc tuyên truyền, vì thực tế người Mỹ sống đối diện với nhau hơn là kề vai sát cánh. ở Mỹ, tinh thần dân chủ, công bằng của người da trắng (Anglo sacxong) ưu trội chỉ như một tấm màn che mỏng manh, mà nhìn từ xa người ta tưởng là trong trắng và tinh khiết, nhưng sau động thái “vén màn” người ta ngỡ ngàng vì biết người da đỏ bị diệt chủng, người da đen bị nô lệ hoá và từ đó, “Nồi hầm nhừ” chỉ còn như “một cái bẫy giương giương để đánh lừa chú chim non” (theo cách nói của Jean Pierre Fichou). Điều đó khiến “nồi hầm nhừ” ngày nay ở Mỹ luôn âm ỉ nhiệt độ nóng bỏng và gây ra nhiều vết rạn nứt, làm cho tinh thần gắn kết truyền thống của người Mỹ ngày càng doãng ra.
Tất cả những ai, dù ở phương trời nào, khi đến Mỹ đều được khuôn đúc thành một khối. Những con người hướng tầm nhìn và bước chân đến miền “đất hứa” không chỉ mang theo thân xác, ý chí khẳng định mình, mà còn gói trong hành trang văn hoá của dân tộc họ. Tuy nhiên, khi đến đây – đối diện trước một tồn tại mới, bắt buộc họ phải tẩy rửa những vết tích quá khứ để hội nhập và “đeo bám”, để “rượt đuổi” và tìm kiếm sự thành công.(9)
Thiết chế của một nền dân chủ, tự do là chất xúc tác để hình thành nên cá tính dân tộc Mỹ và nó được biểu trưng bằng những cá nhân trong xã hội. Chủ nghĩa tự do Mỹ dựa trên chủ nghĩa bình quân và thuyết đa nguyên cho thấy tiêu chí sinh tồn của một nước Mỹ đa sắc tộc, đó là có lợi ích cá nhân thì mới có tiến bộ, sự bình đẳng về cơ hội cho phép ai cũng có thể phát huy khả năng trong bối cảnh “trăm hoa đua nở”. Mỗi người Mỹ đều tự khẳng định rằng, dù trong xã hội làm nghề gì, giàu hay nghèo, đã có những hành động gì… thì chính tôi đã tự tạo ra bản sắc của tôi. Vì vậy, mỗi người Mỹ không chịu nhờ vả ai, họ đi lên bằng chính đôi chân của mình bởi họ quan niệm rằng, “vận mệnh không ai trao cho mình bằng chính mình tạo ra”. Với suy nghĩ đó, họ chấp nhận hứng trải cuộc sống trong niềm tin, sự lạc quan về một kết cục tốt đẹp. ở Mỹ, chủ nghĩa tự do là cơ sở cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, vì trong dòng chảy cuộc sống mỗi cá nhân tự khẳng định mình trong sự sáng tạo. Sự sáng tạo đó được xã hội công nhận trong chừng mực cá nhân đó thành đạt và có ích cho xã hội. Chủ nghĩa tự do ở Mỹ cũng có quan hệ mật thiết với đạo Tin Lành và Thanh giáo, bởi lẽ nó cho phép con người một mình đối diện trực tiếp với Chúa để tự do lựa chọn, tự giao ước. “Ngay thuở bình minh của sự ra đời của nước Mỹ, những nhóm nhỏ di dân đã ấp ủ một niềm tin mạnh mẽ vào sứ mạng xây dựng một vương quốc của Chúa Trời trên “miền đất hứa” này. Sự thông giao của Chúa với tín hữu Thanh giáo coi thành công vật chất là sự minh chứng về ơn huệ của Chúa. Lòng khao khát của cải, lòng hăng say lao động và vui sống đạm bạc, tất cả như biện minh cho việc kinh doanh buôn bán chính là một phương thức giành thắng lợi”(10).
Một phương châm sống đã thành truyền thống của người Mỹ là phải tự làm nên chính mình – thân lập thân (self made man). Người Mỹ quan niệm rằng, giá trị hữu dụng với cá nhân không thể có được từ một sự may rủi nào, nó phải là kết quả của sự nỗ lực cá nhân. Đây chính là cơ sở tạo nên tính tự chủ về hành vi trong mỗi hành động của người Mỹ, họ quyết đoán trong hành động và có bản lĩnh chịu trách nhiệm đối với những hành động của mình. Để làm được điều này, đôi khi người Mỹ chấp nhận mạo hiểm. Nhưng vì lợi ích, họ chấp nhận lao vào vòng xoáy của sự tiến thân, “vươn vượt” lên phía trước để theo đuổi lợi ích, và xem mạo hiểm chỉ là một yếu tố trên con đường đi đến thành công. “Nếu hành động trong mạo hiểm sẽ có một nửa cơ hội thành công và một nửa nguy cơ thất bại, nhưng nếu không hành động thì không có gì cả. Vậy, nên hành động để có thể thành công”. Đó là suy luận của một người Mỹ khi đối diện với cơ hội và thách thức. Đối với người châu Âu, nếu không làm được cái gì tốt nhất thì thà rằng chẳng có gì; ngược lại, với người Mỹ: thà có được một cái gì đó còn hơn không có gì cả. Vì thế, hành động trong cuộc sống luôn được người Mỹ tôn thờ như một tín ngưỡng. (10)
Người Mỹ quan niệm hành động là phải thúc đẩy để tạo ra một hiệu quả nào đó và nó phải giúp ích cho sự tồn hữu của họ. Họ quả quyết rằng, cái gì có “tác dụng” thì cái đó là chân lý, chân lý là “hiệu quả”, càng nhiều chân lý càng tốt. Để hành động có hiệu quả, mỗi cá nhân Mỹ lao phóng vào thực tiễn bằng sự dũng cảm và quyết đoán của ý chí, dám đối diện với thách thức và vượt qua nó để đạt đến thành công. Mọi hành động phải luôn xác định rõ mục đích và mục đích cuối cùng là “hiệu quả”. Hiệu quả chính là thước đo giá trị hành động.
ở Mỹ, đứng trước “giá trị tiền mặt” thì mọi người đều bình đẳng như nhau: “Anh ta hài lòng vì ở đây (Mỹ) không phải là bác sĩ mới được tôn trọng, người ta không cần biết gốc gác anh là ai? Bố anh làm nghề gì?,… Chỉ cần có tiền là có thể mua xe Mescedes, tậu biệt thự, lên giai cấp dễ dàng… Nhiều nhà chính khách không giầu, mà còn khoe gốc gác hèn kém của mình. Người nước ngoài chê người Mỹ quá ư vật chất lý tài, họ chưa thấy hết giá trị tượng trưng cho thành công cá nhân của đồng tiền”(11).
Những người Mỹ thành đạt và trở nên giàu có như thế giới biết đến không phải là một sự ngẫu nhiên, may rủi hay “ngồi mát ăn bát vàng”. Thành quả của họ luôn nằm sau sự nhọc nhằn nắng mưa, chịu khó, chăm chỉ, biết tiết kiệm, sống có kỷ luật và coi trọng đạo đức lao động. Đạo đức lao động của người Mỹ thể hiện ở việc họ không chỉ biết quý giá trị của đồng tiền có được từ “mồ hôi, xương máu và nước mắt”, mà còn coi đó là một sự ân sủng của Thiên Chúa. Lịch sử “Lễ Tạ ¥n” của người Mỹ viết: “Năm 1620, có một tàu buồm mang tên “Hoa tháng năm” (Mayflower), sau 65 ngày trôi nổi trên mặt biển đã đến New England của châu Mỹ. Trên thuyền có tất cả 102 người… Mùa đông năm 1621, số người này gặp giá rét dữ dội, lại bị một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, khiến họ phải trải qua một cuộc sống hết sức khổ sở. Sau tai nạn trên, con số 102 người chỉ còn sống có 44 người và trong số đó chỉ có 7 người đủ sức khoẻ để chôn người chết. Mặc dù phải chịu sự khổ sở như vậy, thế mà khi con thuyền “Hoa tháng năm” bắt đầu trở về nước Anh, không có một người nào chịu theo thuyền trở về nước cả!… Mùa thu 1621, họ trúng mùa to. Thế là họ tổ chức ngay một buổi tiệc tạ ơn giữa đồng nội”(12). Khi đó, những người Mỹ đầu tiên nghĩ rằng, Chúa đã thương tình cứu vớt sự sống bằng những giá trị đích thực; vì vậy, phải tạ ơn Chúa! Điều này chứng thực rằng, ở Mỹ, yếu tố tôn giáo chiếm giữ một vị trí quan trọng trong văn hoá. “Chúa” có vai trò quan yếu trong đời sống tinh thần của một bộ phận không nhỏ người Mỹ.
ở Mỹ, yếu tố cá nhân luôn được đề cao hơn cả trong văn hoá, chính điều này đã làm nổi bật “cá tính Mỹ”. Người Mỹ luôn chống lại quan điểm cho rằng “tất cả mọi người đều giống nhau”. Họ nêu khẩu hiệu: “Hãy là chính mình”. Và, không có lý do gì phải thay đổi cách ứng xử để hợp với số đông”. “Nếu muốn một việc gì đó được thực hiện tốt, phải tự tay mình làm lấy” hoặc “về lâu về dài, người duy nhất mà bạn có thể tin cậy, đó là chính mình”.
Tính cách Mỹ có những giá trị phổ quát đã được định hình. Tuy nhiên, nhìn từ giác độ đơn sắc thì nó lại luôn vận động không ngừng, vì mỗi cá nhân Mỹ luôn là một chủ thể bất định. Francis Lieber (1800 – 1872) từng nói: “ở Mỹ ông cảm thấy mình bị buộc vào cánh quạt của cối xay gió,… sự vận động trở thành sứ mệnh lịch sử”(13). Người ta cũng nói vui với nhau rằng, người Mỹ cử động cả trong khi ngủ. J.P.Fichou đã ví von: “Hoa Kỳ là đất nước của những bánh xe lăn”.
Sự hình thành cá tính Mỹ theo dòng chảy của lịch sử nước Mỹ không thể thiếu vắng triết học Mỹ. Như F.Nietzche (1844 – 1900) nói, triết học là yếu tố cơ bản (bên cạnh tín ngưỡng và khoa học) làm nên văn hóa Mỹ. Tuy nhiên, triết học Mỹ không như triết học châu Âu, vì ở châu Âu triết học là sản phẩm của nhà kính, của tư duy bị cuốn hút bởi những khái niệm tinh tế, còn ở Mỹ, triết học là sản phẩm của tự nhiên. Triết học Mỹ không xây dựng lâu đài bằng những khái niệm mà nó là một nền triết học tự do, tung bay ngoài trời. Nó chủ trương lảng tránh những vấn đề của triết học truyền thống, không thích bàn đến những vấn đề trừu tượng, chỉ chú tâm vào những vấn đề cụ thể mang lại lợi ích thiết thân cho con người. Trong sự đua nở của triết học Mỹ (triết học phân tích, triết học khoa học, trường phái lịch sử, chủ nghĩa Frued mới, chủ nghĩa hiện thực mới, chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hiện sinh,…) thì chủ nghĩa thực dụng được xem là biểu trưng của văn hóa Mỹ, nó là đặc sản tinh thần của nước Mỹ, đã thấm sâu vào tính cách Mỹ. “Nếu nói có loại triết học nào trên thế giới bắt nhịp chặt chẽ nhất với mạch đập của thời đại, trước hết cần nêu lên triết học chủ nghĩa thực dụng của nước Mỹ, được nảy sinh theo tiếng gọi của thời đại Mỹ, có chung số phận với sự phát triển của xã hội Mỹ, trở thành triết học nhân sinh của người Mỹ”(14). Quả thật, đối với người Mỹ, chủ nghĩa thực dụng được xem như một loại phương pháp chỉ dẫn mỗi cá nhân hành động hướng đến hiệu quả. Mỗi khi nói đến nó, người ta nghĩ ngay đến nước Mỹ; ngược lại, khi nói đến nước Mỹ, người ta cũng nghĩ ngay đến chủ nghĩa thực dụng.
Tóm lại, nước Mỹ với những yếu tố tự nhiên cùng sự chuyển biến xã hội từ khi hình thành cho đến khi nó đi vào quỹ đạo phát triển là quá trình hình thành nên tính cách Mỹ. Nước Mỹ có điều kiện phát triển không giống bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới và tính cách của người Mỹ cũng khác biệt tương tự. Nhờ tính cách này mà người Mỹ luôn xác định được phương hướng nhân sinh phù hợp để hành động và có hiệu quả tốt.
Một quốc gia thịnh hay suy chủ yếu là do yếu tố con người của quốc gia đó. Chính người Mỹ và tính cách của họ đã làm nên sự phồn vinh và thịnh vượng của đất nước họ. Bằng nội lực con người cộng với “thiên thời, địa lợi” nước Mỹ đã trở thành một siêu cường về nhiều lĩnh vực chỉ sau 4 thế kỷ. Cá tính Mỹ là sự hoà quyện lẫn nhau bởi các giá trị văn hoá, văn minh của nhiều dân tộc trên thế giới. Nó là một cá tính tồn tại trong đa dạng nhưng lại hết sức độc đáo. Sự độc đáo này đã làm nên một phong cách riêng biệt – phong cách Mỹ.(14)
************
(1) Lê Minh Đức, Nguyễn Nghị. Lịch sử nước Mỹ. Nxb Văn hóa – Thông tin, 1994, tr.6.
(2) Lê Thị Hương. Chủ nghĩa thực dụng và cuộc đấu tranh chống lối sống thực dụng ở nước ta hiện nay. Luận văn Thạc sĩ Triết học, 2004, tr.8.
(3) Đặng Ngọc Dũng Tiến. Hoa Kỳ – phong tục và tập quán. Nxb Trẻ, Tp. HCM, 2001, tr.239.
(4) Vương Kính Chi. Lược sử nước Mỹ. Nxb Tổng hợp, Tp. HCM, 2000, tr.43.
(5) Nguyễn Thái Yên Hưng. Liên bang Mỹ – đặc điểm xã hội – văn hoá. Nxb Văn hóa – Thông tin, 2005, tr.132.
(6) Đặng Ngọc Dũng Tiến. Hoa Kỳ – phong tục và tập quán. Sđd., tr.19.
(7) Nguyễn Thái Yên Hưng. Liên bang Mỹ – đặc điểm xã hội – văn hóa. Sđd., tr.143.
(8) Nguyễn Thái Yên Hưng. Sđd., tr.72.
(9) Jean Pierre Fichou. Văn minh Hoa Kỳ. Nxb Thế giới, Hà Nội, 1998, tr.33.
(10) Vương Kính Chi. Lược sử nước Mỹ. Sđd., tr.39.
(11) Nguyễn Thái Yên Hưng. Liên bang Mỹ – đặc điểm xã hội – văn hóa. Sđd., tr.72.
(12) Vương Kính Chi. Lược sử nước Mỹ. Sđd., tr.14.
(13) Jean Pierre Fichou. Văn minh Hoa Kỳ. Sđd., tr.51.
(14) Vương Ngọc Bình. Uyliam Giêmxơ. Nxb Thuận Hóa, Huế, 2004, tr.69.
———
Nguồn: Tạp chí Triết học số 3/2011
 

TRUNG QUỐC TRIỂN KHAI NỀN NGOẠI GIAO NƯỚC LỚN

TTXVN (New York 20/8)
Ngày 13/8, Viện nghiên cứu Trung Quốc “Jamestown Foundation” của Mỹ công bố bài viết của nhà phân tích Bonnie s. Glaser và Alison Szalwinski, trong đó cho biết ngày 27/6 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đọc bài phát biểu tại Diễn đàn Hòa bình Thế giới về khái niệm chính sách đối ngoại mới của Trung Quốc với tên gọi là “Nền Ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc”.
Bài phát biểu của ông Vương Nghị được trình bày trước các học giả Trung Quốc tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh trước, nhưng cũng có ý định thông báo với thế giới về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh dưới chính quyền của Chủ tịch Tập Cận Bình. Bài phát biểu của ông Vương Nghị nhắc lại một số quan điểm cũ, kể cả những khái niệm cơ bản được đưa ra trong giai đoạn cuối của Chính quyền Hồ Cẩm Đào và giới thiệu các chủ đề mới thể hiện những thay đổi mạnh mẽ về phong cách và các ưu tiên chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Điều đáng chú ý là ông Vương Nghị khẳng định chính sách đối ngoại của Trung Quốc cần “chủ động” và điều đó cho thấy Bắc Kinh bắt đầu từ bỏ chủ trương chính sách đối ngoại “kiềm chế” của ông Đặng Tiểu Bình. Khái niệm nền ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc lần đầu tiên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc đầu năm 2013, sau khi Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc kết thúc. Một bài xã luận trên tờ “Thời báo Hoàn cầu” ngày 19/3 của Trung Quốc khẳng định Bấc Kinh cần có một chiến lược ngoại giao phù hợp các điều kiện và mục tiêu quốc gia của Trung Quốc. Nền ngoại giao đó không thể sao chép kinh nghiệm của các nước lớn khác. Nền ngoại giao đó phải là nền ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc. Sau đó hai tuần, tờ “Nhân dân Nhật báo” đãng phát biểu của ông Vương Nghị cho rằng việc Chủ tịch Tập Cận Bình chọn Nga cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Chủ tịch nước thể hiện sự thành công của “nền ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc”. Cũng trong tháng đó. Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị tuyên bố với các phóng viên tại Diễn đàn Bác Ngao rằng diễn đàn này là một cuộc thử nghiệm tốt của “nền ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc” nhưng không cho biết nội dung chi tiết của chính sách mới. Rõ ràng, bài phát biểu tháng 6/2013 của ông Vương Nghị là lời giải thích quan trọng đầu tiên khái niệm mới về bản chất, “nền ngoại giao nước lớn” cũng có thể được hiểu là “nền ngoại giao cường quốc”, trong đó mô tả chính xác và rõ hơn những tham vọng của Bắc Kinh. Thực tế, hai từ đầu tiên đã được đề cập trên các phương tiện truyền thông Trang Quốc là “cường quốc”, chẳng hạn ông Tập Cận Bình gọi kiểu “quan hệ cường quốc” mới với các nước như Mỹ và Nga. Một số đặc trưng của “nền ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc” do ông Vương Nghị đưa ra là những nguyên lý quen thuộc và tồn tại từ lâu trong nền ngoại giao Trung Quốc. Chúng bao gồm thực hiện “chính sách đối ngoại độc lập, hòa bình” gắn với 5 Nguyên tắc Cùng chung sống Hòa bình, phản đối bá quyền, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của nước khác.
Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các nước đang phát triển trong các mục tiêu và lợi ích toàn cầu của Trung Quốc. Bắc Kinh liên tục khuếch trương vị thế của Trung Quốc như một người bạn và đối tác của các nước đang phát triển và khẳng định khi Trung Quốc phát triển, các nước đang phát triển sẽ được hưởng lợi. Phản ứng trước những nghi ngờ của các học giả phương Tây và các nhà lãnh đạo thế giới đang phát triển về việc can dự của Trung Quốc ở các nước đang phát triển là nhân đạo, ông Vương Nghị cố gắng khẳng định Trung Quốc sẽ tiếp tục hỗ trợ và ủng hộ các nước đó. Khi đề cập các tranh chấp trên biển của Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á và Nhật Bản, ông Vương Nghị nhắc lại đề nghị: “Các bên có thể gác lại bất đồng và cùng nhau khai thác”. Chủ trương này-lần đầu tiên do ông Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và phát triển trong những năm 1980- cho thấy các tranh chấp khó giải quyết sẽ được Bắc Kinh gác sang một bên để tránh ảnh hưởng đến các mối quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Do các vấn đề trên biển nóng lên trong những năm gần đây, sức ép trong nước đòi hỏi các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ bỏ chính sách này. Nhiều cư dân mạng và học giả Trung Quốc muốn Bắc Kinh có quan điểm mạnh mẽ về vấn đề lãnh thổ và cho rằng chính sách hiện nay của Bắc Kinh quá mềm mỏng và đi ngược lại lợi ích của người Trung Quốc. Việc ông Vương Nghị lặp lại lập trường của ông Đặng Tiểu Bình, cùng với việc ông ta cam kết theo đuổi một giải pháp hòa bình nhằm giải quyết các tranh chấp Biển Đông cũng như bắt đầu các cuộc thảo luận về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông mà ông Vương Nghị đã truyền đạt trong chuyến công du 4 nước ASEAN hồi tháng 5/2013, là bằng chứng cho thấy các nỗ lực của Bắc Kinh nhằm giảm bớt căng thẳng với các nước, láng giềng của Trung Quốc. Bài phát biểu của Vương Nghị cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của một số vấn đề trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc nổi lên trong những năm gần đây. Do chính sách can dự và hiện diện ngày càng tăng ở nước ngoài của Trung Quốc, vấn đề bảo vệ các công dân Trung Quốc ở nước ngoài nối lên như một ưu tiên cấp bách. Ông Vương Nghị còn đi xa hơn khi phát biểu về sự gia tăng của các công dân Trung Quốc đi du lịch, học tập và làm việc ở nước ngoài. Ông cho biết Chính phủ Trung Quốc “sẽ ủng hộ các công dân Trung Quốc ở nước ngoài một cách mạnh mẽ và tin cậy” để những người Trung Quốc đi du lịch ở nước ngoài cũng có thể thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa” của họ.
Đề cập lời kêu gọi thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa” của Chủ tịch Tập Cận Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị đưa khái niệm “Giấc mơ Trung Hoa” vào các mục tiêu chính sách đối ngoại, khích lệ công dân Trung Quốc nỗ lực thực hiện ước mơ của họ ở trong và ngoài nước. Ông Vương Nghị cũng nhắc lại lời kêu gọi xây dựng “Quan hệ Cường quốc kiểu Mới” của Chủ tịch Tập Cận Bình- hiện chính thức được coi là “Kiểu Quan hệ giữa Các nước lớn”, trong đó nhấn mạnh Mỹ và Nga là hai nước hiện Trung Quốc đang tìm cách thiết lập các mối quan hệ như vậy. Ông giải thích mô hình quan hệ này sẽ bao gồm các yếu tố: “tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi, không xung đột và không đối đầu” và áp dụng các nguyên lý cốt lõi của Chính quyền Hồ Cẩm Đào vào khái niệm mới của Chủ tịch Tập Cận Bình, về các tổ chức đa phương, bài phát biểu của ông Vương Nghị trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 xác định Liên hợp quốc, G-20, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) là những tổ chức được Trung Quốc quan tâm nhiều hơn trong tương lai, nhưng không coi trọng các diễn đàn khác như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Một số nội dung trong bài phát biểu của ông Vương Nghị cho thấy những xu hướng mới và nhiều khái niệm quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc cần được theo dõi. Chẳng hạn, ông Vương Nghị thừa nhận trong những câu mở đầu của bài phát biểu rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và những thay đổi của Trung Quốc đã thúc đẩy “tư tưởng và hành động” của Trung Quốc trong việc theo đuổi mô hình chính sách đối ngoại mới và tác động của chính sách đó đối với thế giới. Mặc dù bài phát biểu của ông Vương Nghị không đưa ra câu trả lời dứt khoát, nhưng rõ ràng một trong những thành phần quan trọng trong chính sách đối ngoại mới của Bắc Kinh sẽ là cách tiếp cận chủ động hơn trong ngoại giao. Trong bài phát biểu, ông Vương Nghị nhắc đến cụm từ “chủ động” không dưới 13 lần. Hiện nay Trung Quốc đang ở một giai đoạn đặc biệt: Trung Quốc vừa là nước đang phát triển vừa là một nước lớn hoặc cường quốc. Việc nhấn mạnh tiến hành nền ngoại giao chủ động của ông Vương Nghị báo hiệu Trung Quốc đang có ý đồ nhanh chóng thoát khỏi chính sách đối ngoại phản úng thụ động của các chính quyền trước đây. Một sự thay đổi quan trọng liên quan đến nền ngoại giao chủ động hơn của Trung Quốc là Bắc Kinh chính thức thừa nhận triển vọng toàn cầu ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc gánh vác trách nhiệm lớn hơn để giải quyết các vấn đề khu vực và thế giới. Mấy năm qua, các học giả Trung Quốc kêu gọi Bắc Kinh đóng góp nhiều hơn vào công tác quản lý toàn cầu. Năm 2010, ông Chen Dongxiao, Viện trưởng Viện nghiên cứu Các Vấn đề Quốc tế tại Thượng Hải, cho rằng giữa nhu cầu chiến lược nhằm chia sẻ trách nhiệm, cung cấp sản phẩm công cộng quốc tế với các kế hoạch và việc thực hiện chiến lược hiện nay của Trung Quốc đang có khoảng cách lớn. Nhưng các quan chức chính phủ Trung Quốc tiếp tục không thừa nhận các yêu cầu đó. Trong bài viết mô tả chi tiết “Con đường Phát triển Hòa bình” được công bố năm 2010, ủy viên Quốc vụ Viện Đới Bỉnh Quốc tái khẳng định với thế giới rằng Trung Quốc sẽ là một cường quốc ngày càng hợp tác và hòa bình và sẽ không bao giờ tìm kiếm sự lãnh đạo và cạnh tranh với các cường quốc khác.
Sách Trắng năm 2011 với chủ đề Phát triển Hòa bình của Trung Quốc cho rằng: “Khi sức mạnh tổng hợp của đất nước gia tăng, Trung Quốc sẽ gánh vác nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế tương ứng với sức mạnh đó” nhưng không cho biết khi nào Bắc Kinh sẽ hành động như vậy. Nhưng bài phát biểu của ông Vương Nghị cho biết Trung Quốc nhận thấy phải theo đuổi một nền ngoại giao chủ động hơn chứ không chỉ đơn thuần theo đuổi một nền ngoại giao thận trọng và kiềm chế. Ông tuyên bố: “Trung Quốc sẵn sàng đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng quốc tế” và Trung Quốc “thực hiện trách nhiệm của mình cũng như đóng góp lớn hơn cho nền hòa bình và phát triển chung trên thế giới”. Ông cũng cho rằng Trung Quốc sẵn sàng và mong muốn sử dụng những kinh nghiệm và kiến thức của mình về quan hệ quốc tế để đóng vai trò lãnh đạo bằng cách cung cấp các sản phẩm công cộng và tham gia nhiều hơn vào công tác quản lý toàn cầu. Những tuyên bố đó cho thấy công tác quản lý cũng như mức độ lãnh đạo toàn cầu lớn hơn trong cộng đồng quốc tế sẽ là một phần quan trọng trong chính sách ngoại giao nước lớn mang đặc điểm Trung Quốc. Một ví dụ cụ thể về sự đóng góp lớn hơn cho cộng đồng quốc tế của Trung Quốc là: lần đầu tiên Trung Quốc đóng góp quân cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mặc dù trước đây Trung Quốc do dự đưa ra cam kết này vì lo sợ bị tố cáo can thiệp công việc nội bộ nước khác, nhưng sự xuất hiện của hàng trăm binh sĩ gìn giữ hòa bình người Trung Quốc ở Mali trong tháng 8/2013 là dấu hiệu của chính sách đã thay đổi. Ngoài việc xác nhận quyết định này, ông Vương Nghị cũng cho biết Bắc Kinh sẽ bắt đầu đóng vai trò lớn hơn trong tiến trình hòa bình Trung Đông. Bằng cách nhấn mạnh đề nghị 4điểm mới của Chủ tịch Tập Cận Bình nhằm giải quyết vấn đề Palextin, ông Vương Nghị tuyên bố việc can dự về ngoại giao ở Trung Đông là kế hoạch rõ ràng của Trung Quốc. Những tuyên bố thể hiện sự quan tâm của Trung Quốc trong việc tham gia xây dựng cộng đồng quốc tế cho thấy hệ thống quốc tế cần “cải cách và phát triển”. Có lẽ, để giải tỏa những nỗi lo ngại cho rằng Bắc Kinh sẽ tìm cách xóa bỏ cơ cấu và hệ thống ra quyết định hiện nay trên thế giới, Bộ trưởng Vương Nghị cam kết Trung Quốc sẽ “tiếp tục duy trì trật tự quốc tế đang tồn tại” mà nhờ đó Bắc Kinh được hưởng lợi rất lớn. Nhưng ông cho biết thêm, cộng đồng quốc tế “đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tư duy và văn hóa trong nền văn minh hiện đại”, do đó cần xem xét lại và sửa đổi một số lĩnh vực của hệ thống quốc tế. Nhưng ông Vương Nghị không cho biết Bắc Kinh sẽ tìm cách thay đổi những gì và thúc đẩy những thay đổi đó ra sao trong thời gian tới.
***
(Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại”, Trung Quốc, s4/2013)
Hiện nay, thực lực nước lớn lên xuống thất thường, và kéo theo một vòng điều chỉnh và biến động mạnh mẽ mới trong quan hệ quốc tế. Trong đó ba nhóm quan hệ nước lớn là sôi nổi nhất. Ba nhóm quan hệ này gồm: quan hệ giữa nước lớn truyền thống với nước lớn mới nổi, quan hệ giữa các nước lớn mới nổi và quan hệ giữa các nước lớn truyền thống. Từ góc độ Trung Quốc, việc nắm bắt một cách sâu sắc đặc tính chủ yếu và xu thế phát triển của quan hệ nước lớn hiện nay, điều hòa tốt cho ba nhóm quan hệ này, sẽ có lợi hơn cho việc bảo vệ lợi ích quốc gia, thúc đẩy thế giới hòa bình ổn định và phát triển.
Khái niệm “các nước BRICS” được đưa ra hơn 10 năm trước, sau đó trên chính trường quốc tế, cũng rất nhanh đã dấy lên đề tài nóng về trọng tâm kinh tế và quyền lực thế giới chuyển dịch sang phía Đông. Nhưng điều thực sự khiến cho mối quan hệ giữa nước lớn mới nổi với nước lớn truyền thống tập trung vào trung tâm chính trị toàn cầu vẫn là cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế bùng nổ năm 2008. Cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và nợ công châu Âu đột nhiên xuất hiện, khiến cho các nước lớn truyền thống ứng phó không kịp, tổn thất vô cùng nghiêm trọng, còn các nền kinh tế mới nổi cố gắng thoát khỏi bóng đen của khủng hoảng, kinh tế vẫn duy trì đà tăng trưởng nhanh. Các nước lớn phương Tây buộc phải thừa nhận, các tổ chức quốc tế được xây dựng từ các nước lớn truyền thống đã không thể đối phó với cuộc khủng hoảng trước mắt; sự hợp tác của các nền kinh tế mới nổi là không thể thiếu. “Nhóm G20” đang nổi lên trên vũ đài chính trị trong tình hình khủng hoảng này. Bên cạnh việc hợp tác với các nước mới nổi để đối phó với cuộc khủng hoảng, phương Tây bắt đầu xem xét một cách nghiêm túc các nước lớn mới nổi có ý nghĩa gì đối với châu Âu và Mỹ, cũng như vấn đề đối phó với lực lượng này như thế nào.
Việc Mỹ “quay trở lại châu Á” chính là kết quả của những xem xét này, cũng khiến cho quan hệ giữa nước lớn truyền thống và nước lớn mới nổi đột nhiên trở thành tiêu điểm của quan hệ quốc tế. Việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông chắc chắn có nhiều toan tính, bao gồm tham gia một cách sâu sắc hơn vào nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương đang tăng trưởng nhanh chóng, cũng như đề phòng sự phát triển của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển quân sự… Nhưng cho dù ý đồ của Mỹ như thế nào, thì việc Mỹ đưa ra “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPP), tăng cường liên minh quân sự truyền thống với các nước như Nhật Bản, Ôxtrâylia…, nâng đỡ Việt Nam và Philíppin trong vấn đề tranh chấp Biển Đông…, làm tăng thêm tình hình căng thẳng khu vực châu Á-Thái Bình Dương là sự thực không phải bàn cãi. Việc làm thế nào để giải quyết vấn đề chung sống hòa bình giữa Trung Quốc và Mỹ trở thành thách thức ngoại giao quan trọng mà hai nước phải đối diện.
Trong bối cảnh các nước lớn mới nổi trỗi dậy, Liên minh châu Âu (EƯ) cũng điều chỉnh chiến lược đối ngoại không thay đổi từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai của mình. Lâu nay, các nước lớn như Anh, Pháp, Đức luôn coi liên minh xuyên Đại Tây Dương là trụ cột quan trọng nhất trong chiến lược đối ngoại của các nước này. Tuy nhiên những năm gần đây, ngày càng nhiều nước châu Âu coi các nền kinh tế mới nổi là trụ cột mới của mình. Trong văn kiện chính sách đối với Trung Quốc được ban hành đầu năm 2009, Bộ Ngoại giao Anh nhấn mạnh từ việc cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế, đối phó với biến đổi khí hậu, thực hiện “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, cho đến việc giải quyết vấn đề điểm nóng trong khu vực và trên thế giới, đều không thể tách rời Trung Quốc. Năm 2012, Đức đã khởi động cơ chế tham vấn cấp chính phủ hàng năm với Trung Quốc, cơ chế này trước đây Đức chỉ thiết lập với một số nước như Pháp …. Bộ Ngoại giao Đức công khai gọi quan hệ Đức-Trung Quốc là “quan hệ đặc biệt”. Ngoài Trung Quốc, các nước lớn mới nổi như Ấn Độ, Braxin… đều đã trở thành trọng điểm ngoại giao của Liên minh châu Âu.
Sự hợp tác đang trên đà phát triển mạnh mẽ của các nước BRICS là biểu hiện đẹp nhất trong quan hệ quốc tế hiện nay, tác động đến tinh thần của quan hệ nước lớn. Tháng 3/2013, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ năm của các nước BRICS tuyên bố thành lập Ngân hàng phát triển BRICS và kho dự trữ ngoại hối, đánh dấu sự hợp tác giữa các nước lớn mới nổi giành được những tiến triển mang tính lịch sử. Ngân hàng phát triển BRICS có thể gọi là Ngân hàng thế giới phiên bản BRICS, với mục đích là giúp đỡ các nước đang phát triển giải quyết vấn đề tài chính phát triển lâu nay; kho dự trữ ngoại hối BRICS là Quỹ tiền tệ quốc tế phiên bản BRICS, với mục đích giúp đỡ các thị trường mới nổi đối phó với sự không ổn định của thị trường quốc tế. Cùng với việc sức hội tụ của BRICS tăng lên, lĩnh vực hợp tác không ngừng mở rộng, các nước lớn mới nổi với tư cách là lực lượng chỉnh thể, ảnh hưởng và vai trò của BRICS sẽ tăng lên hơn nữa. Và quan hệ giữa các nền kinh tế mới nổi cũng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của quan hệ nước lớn.
Do Chiến tranh Lạnh kết thúc, mối quan hệ giữa các nước lớn phương Tây trở nên lỏng lẻo, ấm lên một cách rõ rệt, luận điệu “lấy các nước phương Tây đã được nâng cấp để đối phó với các nước phi phương Tây đang trỗi dậy” xuất hiện ở châu Âu và Mỹ đã đưa tới sự quan tâm của giới nghiên cứu chiến lược quốc tế. Việc các nước lớn truyền thống phương Tây tái xích lại gần nhau vừa có nguyên nhân trực tiếp là liên kết với nhau để cùng thoát khỏi khó khăn kinh tế, vừa có những toan tính sâu xa là kết hợp lại để đối phó với sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi. Về mặt kinh tế, hoạt động “xích lại gần nhau” của các nước lớn truyền thống phương Tây diễn ra liên tục, như Mỹ và Liên minh châu Âu tuyên bố đàm phán xây dựng “Hiệp định đối tác đầu tư và thương mại xuyên Đại Tây Dương” (TTIP), Nhật Bản gia nhập đàm phán “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương”, cũng như châu Âu và Nhật Bản sẽ khởi động đàm phán “Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế” (EPA)… về mặt chiến lược và an ninh, nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Barack Obama tăng cường một cách rõ ràng chiến lược liên minh, đã hình thành mô hình hợp tác mới “chia sẻ trách nhiệm, cùng nhau hành động” với châu Âu ở các khu vực như châu Phi, Trung Đông…, đồng thời nỗ lực “kéo châu Âu vào châu Á”, cùng xây dựng trật tự an ninh châu Á-Thái Bình Dương mới, Nhật Bản bên cạnh việc tăng cường liên minh quân sự với Mỹ, cố gắng tìm kiếm sự hợp tác quân sự và an ninh với NATO và các nước Liên minh châu Âu.
Quan sát ba nhóm quan hệ nêu trên có thể nhận thấy ba nhóm quan hệ này có một số đặc tính rõ rệt, như tính đa nguyên, tính liên kết, tính dễ thích nghi… Tính đa nguyên phản ánh sự phức tạp và mâu thuẫn trong quan hệ nước lớn hiện nay. Do lợi ích giữa các nước lớn là “trong anh có tôi, trong tôi có anh”, đan xen lẫn nhau, nên khó có thể nói rõ một cách khách quan tính chất của quan hệ nước lớn hiện nay. Nhận biết được đặc tính này vô cùng quan trọng, có lợi cho việc bình tĩnh phân tích tình hình, tránh vì phán đoán sai lầm mà phản ứng không thích đáng. Tính liên kết chủ yếu chỉ sự liên hệ mật thiết giữa ba nhóm quạn hệ nước lớn. Hiệu ứng quần thể của các nước lớn mới nổi ngày càng nổi bật, vì vậy việc mỗi nhóm quan hệ nước lớn xuất hiện điều chỉnh, đều sẽ gây nên phản ứng dây chuyền ảnh hưởng đến các mối quan hệ khác. Và tính phức tạp và tính liên kết lại quyết định tính dễ thích nghi của quan hệ nước lớn. Mô hình quan hệ trước đây, như liên minh phương Tây do Mỹ chủ đạo và châu Âu đi theo, cũng như đối kháng tập đoàn trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh…, đều khó có thể thích ứng với tình hình mới. Hiện nay, các nước lớn chủ yếu đều đang tìm kiếm mô hình phát triển quan hệ nước lớn mới trong thời kỳ mới. Cho nên cũng có thể nói rằng quan hệ nước lớn trong giai đoạn hiện nay đang ở thời kỳ điều chỉnh.
Quan hệ nước lớn thay đổi nhanh chóng và những đặc tính mới của nó, đưa tới thách thức mới và nhiệm vụ mới cho ngoại giao Trung Quốc. Trước tiên, ngoại giao nước lớn cần phải xem xét một cách tổng hợp nhận thức được vai trò của các nước BRICS và các nước lớn truyền thống đều quan trọng như nhau. Trên chính trường quốc tế, luận điệu “BRICS đang yếu đi” là không đáng tin cậy, và càng không thể để các nước phương Tây chia rẽ các nước lớn mới nổi. Sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi sẽ không thuận buồm xuôi gió, nhưng xu thế trỗi dậy là không thể ngăn cản. Do có giai đoạn phát triển kinh tế xã hội tương tự, lại có hoàn cảnh gần giống nhau trong trật tự quốc tế hiện nay, Trung Quốc và các thể kinh tế mới nổi khác càng có nhiều lập trường và lợi ích tương đồng hơn. Tầm quan trọng của các nước lớn mới nổi đối với Trung Quốc, không chỉ biểu hiện ở sự ủng hộ lẫn nhau trên chính trường quốc tế, mà còn do Mỹ và châu Âu bị tác động của khủng hoảng tài chính, nên vai trò của các nước lớn mới nổi khác càng tăng lên rõ rệt đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc. Những năm gần đây, thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc với các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng ổn định đã chứng minh một cách rõ ràng quan điểm này. Tóm lại, việc tăng cường hợp tác toàn diện với các nước lớn mới nổi, phù hợp với lợi ích căn bản của Trung Quốc. Đương nhiên, trong trật tự quốc hiện nay, Mỹ và châu Âu vẫn chiếm un thế, và là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Trung Quốc, vì vậy địa vị của Mỹ và châu Âu với tư cách là trọng điểm ngoại giao của Trung Quốc cũng không nên thay đổi. Trung Quốc phải tiếp tục cố gắng tìm kiếm con đường cùng chung sống với Mỹ, xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới với châu Âu.
Thứ hai, việc các nước lớn phương Tây tăng cường liên minh truyền thống, cần được coi trọng. Một mặt, phải nhận thấy ảnh hưởng ngày càng tăng của các nước lớn mới nổi trên chính trường quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đối kháng tập đoàn theo kiểu Chiến tranh Lạnh rất khó nhen nhóm trở lại; mặt khác, cũng phải nhận thấy sự phát triển của các nước BRICS chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cục diện lợi ích hiện nay, và các nước phát triển truyền thống sẽ không chịu để yên. Phải đề phòng việc các nước lớn truyền thống lợi dụng ưu thế kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật và địa vị chu đạo mà các nước này đang nắm giữ trong các tổ chức quốc tế hiện nay, để liên kết kiềm chế các nền kinh tế mới nổi. “Hiệp định đối tác đầu tư và thương mại xuyên Đại Tây Dương” mà châu Âu và Mỹ tìm cách xây dựng không chỉ như một khu thương mại tự do thông thường, điều quan trọng hơn nữa là muốn thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định thống nhất cho sự giao lưu kinh tế qua lại, để duy trì tốt hơn quyền chủ đạo của phương Tây trong việc hoạch định các quy tắc kinh tế quốc tế.
Thứ ba, việc hình thành cục diện lợi ích quốc tế mới sẽ trải qua một quá trình cạnh tranh rất gay gắt. Trung Quốc muốn thích ứng với hiện thực cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn thì một mặt, không ngừng mở rộng lĩnh vực hợp tác với các nước khác, đồng thời tích cực điều chỉnh một cách có hiệu quả cơ cấu kinh tế trong nước, để tiếp tục nâng cao sức cạnh tranh quốc tế; mặt khác, phải chủ động tham gia việc chế định các quy tắc quốc tế. Cải cách mở cửa 30 năm qua, Trung Quốc thông qua hội nhập quốc tế, đã chấp nhận các quy tắc quốc tế để phát triển, trong tương lai Trung Quốc phải thông qua việc cùng với nước lớn khác tham gia chế định và cải cách các quy tắc quốc tế.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt),
Thứ Tư, ngày 21/8/2013
 

Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba và những điều chưa biết

Minh Thành (Tổng hợp)

Khủng hoảng tên lửa Cuba (tháng 10/1962) là sự kiện kịch tính nhất trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, từng đẩy Mátxcơva và Oasinhtơn đến bên bờ của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Nhưng rốt cuộc, ít người biết được nguyên nhân sâu xa gây ra nó và nhân loại đã thoát ra khỏi thảm họa hạt nhân nhãn tiền đó như thế nào.

Kỳ 1: Từ sự kiện Vịnh Con lợn
Chiến tranh Lạnh bắt đầu được một thời gian, Trung Âu và khu vực Viễn Đông trở thành mặt trận giằng co, đấu tranh chủ yếu của hai phe Xô, Mỹ. Điều đo cũng có nghĩa thế trận được bày ngay trước cổng của Liên Xô. Đối với Mátxcơva, đặc biệt là Nikita Khrushchev, người đang giữ chức Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đó là điều không thể chấp nhận được. Vì thế, Cremli quyết tâm tìm cách thay đổi tình hình. Sau khi cách mạng Cuba thắng lợi vào năm 1959, cơ hội đã đến với người Liên Xô.
Bản đồ Vịnh Con lợn
Đứng trước sự uy hiếp về quân sự và quyết định đình chỉ viện trợ kinh tế của Mỹ, Cuba vẫn kiên cường. Nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Mátxcơva, ngày 3/7/1960, lãnh tụ Cuba, Fidel Castro, tuyên bố từ nay về sau sẽ là một bộ phận cấu thành của phe xã hội chủ nghĩa. Ngày 2/9 năm đó, trong một cuộc mít tinh với sự tham gia của hàng trăm nghìn người, Fidel đã đọc bản “Tuyên ngôn La Habana” nổi tiếng, kịch liệt chỉ trích chính sách mở rộng xâm lược của Mỹ ở Mỹ Latinh, tuyên bố “Mỹ Latinh là của người Mỹ Latinh”
Sau khi đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, dưới sụ ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, tình cảm chống Mỹ của người Cuba dâng cao. Tháng 1/1961, Mỹ cắt quan hệ ngoại giao với Cuba. Quan hệ giữa Mỹ và Cuba căng thẳng cực độ. Ngày 20/1/1961, John Kennedy lên thay Dwight Eisenhower làm tổng thống thứ 35 của Mỹ. Tình hình vẫn không có gì thay đổi bởi trong quá trình tranh cử, Kennedy đã biểu thị một cách rõ ràng rằng Mỹ sẽ không để cho Liên Xô biến Cuba thành căn cứ của mình trên biển Caribê. Tiếp quản Nhà Trắng, Kennedy càng cho thúc đẩy kế hoạch ủng hộ các phẩn tử lưu vong Cuba lật đổ chính quyền của Fidel. Theo Dobrynin, nhà ngoại giao kỳ cựu của Liên Xô, Cục tình báo trung ương Mỹ và Lầu Năm góc đã lên kế hoạch bí mật mang tên Mangosta với mục tiêu là làm suy yếu và sụp đổ hoàn toàn chính quyền của Fidel.
Những tên phản động lưu vong Cuba bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn.
Ngày 15/4/1961, ba chiếc máy bay B-26 sơn cờ hiệu Cuba mang theo bom, tên lửa và súng máy tấn công một số sân bay chủ yếu gần La Habana như ở Ciudad Libertad, San Antonio de Los Banos… Sau đó, hai trong ba chiếc B-26 hạ cánh xuống Florida (Mỹ), những tên phi công bước xuống, tự xưng là người của không quân Cuba đào tẩu, yêu cầu được tị nạn chính trị. Chiếc B-26 còn lại bị pháo cao xạ Cuba bắn bị thương, buộc phải hạ cánh xuống Giamaica. Kì thực, ba chiếc máy bay này không giống những chiếc máy bay không quân Cuba sử dụng. Trên thực tế, nó cất cánh từ một căn cứ ở trong lãnh thổ Goatêmala và do những phần tử lưu vong điều khiển. Chúng muốn tiêu diệt hoàn toàn lực lượng không quân của Cuba, nhưng đã không thể toại nguyện.
Cũng đúng lúc này, hơn 1.200 phần tử lưu vong Cuba tổ chức thành một đội đột kích viễn chinh, lên 4 chiếc tàu rời cảng ở Nicaragoa. Chúng mang theo 5 chiếc xe tăng, nhiều khẩu pháo 75 mm và súng chống tăng, sáng sớm ngày 17/4 đổ bộ lên bãi biển Giron ở trung nam bộ Cuba. Ngoài ra, các phần tử phản động lưu vong Cuba còn sử dụng máy bay để thả xuống Cuba 175 tên lính dù. Tuy nhiên, điều chúng không ngờ là vừa chân ướt chân ráo lên bờ đã bị tan tác bởi lưới lửa phục kích của các lực lượng vũ trang Cuba. Kết quả: 82 tên đền mạng, gần 1.200 tên bị bắt sống, chỉ có khoảng 50 tên lóp ngóp trên biển được tàu Mỹ cứu vớt mang đi.
Đây chính là Sự kiện bãi biển Giron hay còn gọi là Sự kiện Vịnh Con lợn. Hệ quả của nó là:
1/ Làm tăng thêm quyết tâm đi theo con đường xã hội chủ nghĩa cùng Liên Xô của nhân dân Cuba. Tháng 5/1961, Fidel chính thức tuyên bố Cuba la một nước xã hội chủ nghĩa, hợp nhất Phong trào 26/7, Đảng Xã hội nhân dân và Ủy ban chỉ đạo cách mạng 13/3, xây dựng tổ chức cách mạng thống nhất (năm 1965 đổi thành Đảng Cộng sản Cuba).
2/ Làm cho chính phủ Mỹ bị dư luận trong ngoài nước chỉ trích. Cuộc đổ bộ lên bãi biển Giron thảm bại là đòn đánh mạnh vào Kennedy. Sau khi Sự kiện Vịnh Con lợn xảy ra, Kennedy lập tức phái hai thuộc hạ thân tín tới Florida theo dõi việc lãnh đạo chính trị những phần tử lưu vong Cuba đang phẫn nộ vì bị CIA cấm tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Không lâu sau, Kennedy đã hòa giải thành công với những tên lãnh đạo lực lượng Cuba lưu vong, đồng ý với chúng rằng Mỹ sẽ bỏ 53 triệu USD để chuộc những tên phản động lưu vong bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn về trước lễ Noel và sẽ loại Cuba ra khỏi Tổ chức các nước châu Mỹ trong hội nghị của tổ chức này vào tháng 1/1962…
3/ Cổ vũ mạnh mẽ phe xã hội chủ nghĩa. Ngày 184/1961, Liên Xô ra tuyên bố kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh dũng cảm giành độc lập, tự do của nhân dân Cuba, yêu cầu Mỹ ngừng mọi hành động xâm lược nhằm vào Cuba. Khrushchev sau này cũng viết: “Sau khi Fidel giành thắng lợi quyết định trước các phần tử phản cách mạng, chúng tôi đã tăng cường viện trợ quân sự cho Cuba. Quân đội Cuba có thể tiếp nhận được bao nhiêu vũ khí, chúng ta sẽ cung cấp bấy nhiêu”.
Nếu đem kết hợp ba yếu tố trên lại, rõ ràng, Cuba ngày càng gần với Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh giữa Mátxcơva và Oasinhtơn lấy La Habana làm thể mang cũng ngày càng quyết liệt. Cuộc khủng hoảng trên biển Caribê đã xảy ra trong bối cảnh đó.
Kỳ 2: Đến những chuyến tầu bí mật trên biển Caribê
Từ khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu, hai phe Xô, Mỹ luôn trong tình trạng “tên chuẩn bị rời cung, súng sẵn sàng lẩy cò” và bên nào cũng muốn giành phần thắng.
Về phần Oasinhtơn, sau khi Eisenhower bước vào Nhà Trắng, John Dulles thay George Marshall làm Ngoại trưởng, từ “ngăn chặn”, chính sách đối phó với phe xã hội chủ nghĩa của Mỹ đã chuyển thành “ngăn chặn và giải phóng”: một mặt dựa vào ưu thế hạt nhân quân sự để đạt được hiệu quả uy hiếp cao nhất với giá thấp nhất, thông qua răn đe hạt nhân và thiết lập vòng vây quân sự tiếp tục ngăn chặn sự “bành trướng” của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản; mặt khác dựa vào các hành động bí mật và tấn công tâm lý để lật đổ chính quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa, dùng biện pháp hòa bình “giải phóng nhân dân các nước Đông Âu khỏi ách áp bức của chủ nghĩa cộng sản” (chiến lược Diễn biến hòa bình).
Tổng thống Mỹ Kennedy và nhà lãnh đạo Khrushchev của Liên Xô, hai nhân vật chính trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba 1962.
Đối với Mátxcơva, sau khi Stalin mất, Georgy Malenkov lên giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Trong hơn hai năm nắm quyền, Malenkov đã cho thực thi chính sách đối ngoại tương đối hòa hoãn, làm dịu bớt sự đối kháng vốn rất quyết liệt với thế giới phương Tây do Mỹ đứng đầu. Năm 1955, sau khi Malenkov từ chức, Khrushchev đã không vì những bất đồng với Malenkov trong vấn đề đối nội mà thay đổi chính sách đối ngoại của Liên Xô, thậm chí còn tỏ ra hòa hoãn hơn với phương Tây so với người tiền nhiệm. Ví dụ: Liên Xô kết thúc tình trạng chiến tranh với Đức, thừa nhận sự trung lập của Áo và rút quân đội ra khỏi nước này, cải thiện quan hệ với Mỹ, tìm cách giải trừ quân bị, cấm bom nguyên tử, đưa ra đường lối tổng thể cho chính sách đối ngoại với nội dung chủ yếu là chung sống hòa bình…
Ở một mức độ nào đó, những điều chỉnh của Mỹ và Liên Xô đã làm dịu bớt sự căng thẳng của tình hình quốc tế kể từ khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Mátxcơva và Oasinhtơn lùi bước vì thực chất đây là thủ đoạn tấn công mới. Trước tiên, cả Liên Xô và Mỹ khi đó đều gặp phải nhiều khó khăn lớn. Với Mỹ là vai trò minh chủ phe phương Tây bị lung lay do không thể giành chiến thắng trên chiến trường Triều Tiên. Với Liên Xô là khuynh hướng li tâm của các nước Đông Âu do phải đối mặt với những khó khăn kinh tế trong nước. Bên cạnh đó, cả Liên Xô và Mỹ đều lấy thực lực quân sự làm lá chắn bảo vệ và không chịu đơn phương nhượng bộ. Do đó, mặc dù mùa đông băng giá của Chiến tranh Lạnh đã đi qua, nhưng mùa xuân hòa hoãn vẫn chưa tới. Trong thời khắc giao mùa đó, giữa Liên Xô và Mỹ, giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa lại xuất hiện những dòng hàn lưu đối kháng như cuộc khủng hoảng Béclin lần thứ hai, sự kiện bức tường Béclin, sự kiện máy bay do thám U-2 của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô, sự đổ vỡ của hội nghị thượng đỉnh Pari… Tuy nhiên, dòng hàn lưu lớn nhất lại đến từ biển Caribê.
Sau sự kiện bãi biển Giron, chính sách khống chế và phong tỏa của Mỹ đối với Cuba càng ngặt nghèo hơn. Ngoài việc cấm vận mậu dịch toàn diện, Oasinhtơn tiếp tục sử dụng biện pháp cô lập để ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản kiểu Fidel ở Mỹ Latinh và không từ bỏ ý định can thiệp vũ trang. Vì thế, Lầu Năm góc thường xuyên phái máy bay do thám tầm cao U-2 tiến hành giám sát Cuba, chiêu mộ 150.000 quân dự bị, cho phép những phần từ Cuba lưu vong gia nhập quân đội Mỹ, tổ chức diễn tập quân sự quy mô lớn ở biển Caribê…
Hơn ai hết, Chủ tịch Fidel Castro, hiểu rõ thế và lực của Cuba lúc này, muốn chống lại Mỹ cách tốt nhất là nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau sự kiện bãi biển Giron, Khrushchev đã hai lần viết thư cho Kennedy nói rõ với người Mỹ rằng Liên Xô phải cung cấp cho Cuba mọi sự viện trợ cần thiết. Tháng 7/1962, Fidel phái Raul và Che Guevara dẫn đầu đoàn đại biểu Cuba thăm Liên Xô với mục đích chủ yếu là yêu cầu Liên Xô có biện pháp giúp Cuba tránh khỏi sự xâm lược của Mỹ. Trên thực tế, từ khi xảy ra sự kiện bãi biển Giron, Khrushchev luôn suy nghĩ nghiêm túc về sách lược đối với vấn đề Cuba. Theo Khrushchev, người Mỹ sẽ không thể chấp nhận được sự tồn tại của chính quyền Fidel. Nếu Liên Xô không có bước đi quyết định bảo vệ Cuba thì rất có thể sẽ mất Cuba. Nếu Cuba sụp đổ, các nước Latinh khác sẽ rời bỏ Liên Xô, làm sụt giảm nghiêm trọng vị thế của Liên Xô trên trường quốc tế. Với suy nghĩ đó, Khrushchev quyết tâm biến Cuba thành lô cốt đầu cầu ngay trong sân sau của phương Tây.
Trong chuyến thăm này, Cuba và Liên Xô đã đạt được một hiệp định đàm phán quân sự. Theo đó, Liên Xô sẽ cung cấp viện trợ quân sự cho Cuba và cử chuyên gia quân sự tới đảo quốc này. Nội dung cụ thể của hiệp định không được công bố, nhưng sau đó người Mỹ phát hiện, số lượng tầu Liên Xô chở vật tư đi tới biển Caribê tăng mạnh, chỉ trong hai tháng 7 và 8/1962 đã là hơn 100 lượt. Đặc biệt, những chiếc tàu này sau khi cập cảng Cuba, hàng hoá đều do người Liên Xô bốc dỡ. Điều này đã làm cho người Mỹ nghi ngờ. Khi đó, ở nước Mỹ cũng loang đi tin có 16 tàu hàng của Liên Xô chở theo 3.000-5.000 nhân viên kĩ thuật và rất nhiều cấu kiện tên lửa đã tới Cuba. Tuy chưa được kiểm chứng, nhưng nó đã làm cho người Mỹ cảm thấy bất an. Ngay lập tức, Mỹ tăng cường giám sát đường không và đường biển đối với Cuba, chụp ảnh tất cả những tàu Liên Xô đi vào vùng biển Cuba. Kennedy rất quan tâm tới những thông tin tình báo này. Bắt đầu từ tháng 8/1962, việc nhân viên và trang bị của Liên Xô được đưa vào Cuba luôn nằm trong chương trình nghị sự của Nhà Trắng. Phái cứng rắn của đảng Cộng hòa càng được thể, phê phán sự yếu kém về chính sách đối ngoại của chính quyền Kennedy (thuộc đảng Dân chủ).
Cuối tháng 8 năm đó, Che Guevara dẫn đầu doàn đại biểu thứ hai của Cuba sang thăm Mátxcơva. Ngày 2/9, hai nước ra thông báo cho biết Liên Xô đồng ý với yêu cầu cung cấp vũ khí và chuyên gia kĩ thuật cũng như huấn luyện cho lực lượng vũ trang của Cuba. Sự hoài nghi của người Mỹ đã được chứng thực. Ngày 4/9, Nhà Trắng ra tuyên bố về việc Liên Xô thiết lập trận địa tên lửa phòng không ở Cuba và tàu chở tên lửa của Liên Xô. Người Mỹ không thể chấp nhận được cảnh những quả tên lửa đất đối đất và các loại vũ khí tiến công khác được bố trí ở Cuba. Đứng trước sự phản ứng quyết liệt của Mỹ, ngay ngày hôm đó, Khrushchev đã viết thư gửi Kennedy, bảo đảm rằng trước khi cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ diễn ra sẽ không có bất cứ hành động gì làm phức tạp hóa tình hình quốc tế và khiến quan hệ hai nước căng thẳng thêm. Một tuần sau, chính phủ Liên Xô ra tuyên bố: Liên Xô không cần thiết phải di chuyển vũ khí tiến công chiến lược sang nước khác như Cuba. Liên Xô có khả năng chi viện cho bất cứ nước nào yêu chuộng hoà bình ngay từ lãnh thổ của mình.

Kỳ 3: Cuộc đấu vẫn tiếp tục

Vào những năm 1960, trong khi vẫn tiếp tục đàm phán về việc dừng thử nghiệm hạt nhân và cắt giảm quân bị, cả Liên Xô và Mỹ lại tăng cường thử nghiệm hạt nhân. Năm 1959, một tướng lĩnh cao cấp Bộ Quốc phòng Mỹ đã dự đoán: cuối năm 1962, số lượng tên lửa tầm xa của Mátxcơva sẽ gấp 3 lần Mỹ. Kennedy rất quan tâm tới điều này. Chính vì vậy, trong ba năm cầm quyền (1961-1963), Kennedy liên tục gia tăng ngân sách quốc phòng.
Tháng 3/1961, Kennedy ra lệnh đẩy mạnh việc nghiên cứu, chế tạo và sản xuất tên lửa Polaris bắn từ tàu ngầm và tên lửa Minuteman phóng từ lòng đất. Ngoài ra, Mỹ còn tìm cách tăng cường sự có mặt của mình ở Tây Đức, Áo, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ để hình thành thế bao vây đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trong hai năm: 1959 và 1960, quân đội NATO và quân đội Tây Đức nhiều lần tổ chức diễn tập liên hợp lấy Liên Xô và Đông Âu làm kẻ địch giả tưởng. Những quả tên lửa của Mỹ bố trí ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ mất 5-6 phút là có thể vươn tới Mátxcơva. Trong khi đó, nếu phóng từ lãnh thổ của mình và muốn đến được nước Mỹ, tên lửa của Liên Xô phải mất từ 20-30 phút bay.
Il-28, loại máy bay từng được bố trí bí mật ở Cuba trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tên lửa hạt nhân
Cục diện bất lợi này khiến Khrushchev cảm thấy bất an. Trước chuyến thăm Mátxcơva của Raul Castro, tháng 5/1962, Khrushchev đi thăm Bungari. Một hôm, Khrushchev đi dạo trên bờ Biển Đen với Nguyên soái Rodion Malinovsky – Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô. Malinovsky chỉ tay sang phía bờ đối diện nói: “Chỉ cần vài phút là những quả tên lửa hạt nhân bố trí ở các căn cứ quân sự Mỹ trên đất Thổ Nhĩ Kỳ có thể huỷ diệt Kiép, Minxcơ và Mátxcơva”. Khrushchev hỏi: “Vậy tại sao chúng ta không thể thiết lập căn cứ quân sự ở gần nước Mỹ?” Và Khrushchev quyết tâm biến ý tưởng đó thành hiện thực. Đúng lúc này, quan hệ giữa Mỹ và Cuba leo thang căng thẳng. Trong một thời gian ngắn, Cuba đã cử hai đoàn đại biểu sang thăm Liên Xô, đề nghị Mátxcơva giúp La Habana chống lại sự xâm lược của Oasinhtơn.
Nhằm tạo thế cân bằng với Mỹ, Khrushchev đương nhiêu đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ Cuba. Nhưng giúp bằng cách gì? Cung cấp những loại vũ khí thông thường như xe tăng, đại pháo …cũng chỉ giúp Cuba nâng cao khả năng phòng ngự thông thường, không thể tạo ra sức mạnh răn đe đối với Mỹ.
Tên lửa Polaris của Mỹ tại bãi phóng ở mũi Canaveral.
Khrushchev cho rằng: “Chúng ta nhất định phải nghĩ ra biện pháp thực tế để đối phó với Mỹ và sự can thiệp của Mỹ ở biển Caribê”. Cuối cùng, Khrushchev quyết định phải xây dựng căn cứ quân sự và bố trí tên lửa hạt nhân, máy bay Il-28 ở Cuba.
Khrushchev dự tính nếu hoàn thành việc bố trí tên lửa hạt nhân ở Cuba trước khi bị người Mỹ phát hiện thì chỉ cần 1/10 số tên lửa của Liên Xô thoát khỏi đòn trả đũa của Lầu Năm góc cũng đủ giáng đòn sấm sét vào New York. Kết quả của việc bố trí tên lửa hạt nhân ở Cuba không chỉ có thể khống chế hành động quân sự tuỳ tiện của Mỹ nhằm vào Cuba, mà còn giúp tạo thế cân bằng hạt nhân giữa Mátxcơva và Oasinhtơn. Theo Khrushchev, người Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự bao vây Liên Xô, sử dụng vũ khí hạt nhân đe doạ Liên Xô, nên họ đáng được nếm vị đắng khi thấy tên lửa của Liên Xô chĩa vào.
Chính phủ Liên Xô phê chuẩn kế hoạch của Khrushchev, căn cứ vào hiệp định bí mật kí với Cuba, quyết định bố trí tên lửa tầm trung ở Cuba và cung cấp máy bay ném bom phản lực Il-28 cho Cuba. Hàng chục quả tên lửa (mỗi quả có thể mang đầu đạn hạt nhân có sức công phá lớn gấp hàng chục lần so với quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki – Nhật Bản) và hàng chục chiếc máy bay đã được tháo rời, đóng vào kiện, bí mật chuyển lên những chiếc tàu chở hàng đưa đến Cuba. Khoảng 3.500 nhân viên kĩ thuật Liên Xô cũng xuống tàu sang Cuba. Tới ngày 2/9, khi hai đoàn đại biểu Liên Xô và Cuba ra tuyên bố chung, kế hoạch vận chuyển vũ khí và nhân viên kĩ thuật của Liên Xô cơ bản đã hoàn tất. Tuy nhiên, Khrushchev không thể ngờ rằng kế hoạch chuyển thế trận từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu của mình lại gây ra một cơn sóng gió lớn đến vậy trong quan hệ giữa Mátxcơva và Oasinhtơn cũng như trên trường quốc tế. Nguy cơ chiến tranh cũng không đặt Liên Xô vào vòng ngoại lệ.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Chiến dịch của Mỹ ở Việt Nam năm 1967

Junction City là một chiến dịch kéo dài 53 ngày của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhằm vào các căn cứ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở chiến khu C-vùng Lò Gò - Xa Mát ngày nay vào đầu năm 1967
Quân đội Mỹ đốt hết làng mạc


Nguồn: http://kienthuc.net.vn/ta-tay/anh-doc-cuoc-hanh-quan-lon-nhat-cua-my-o-vn-253010.html

“QUẢ BOM NỔ CHẬM” TRONG NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC ĐANG NGÀY MỘT LỚN?

TTXVN (Bắc Kinh 10/5)
(Tạp chíTuần tin tức Trung Quốc ” số ra ngày 29/4/2013) Ngày 21/4, tạp chí“Quan sát kinh tế Trung Quốc” thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế vĩ mô Trung Quốc, Đại học Bắc Kinh tổ chức buổi họp về Báo cáo quý I năm 2013. Tại hội nghị, Giáo sư Học viện nghiên cứu phát triến quốc gia, Đại học Bắc Kinh Tống Quốc Thanh trong phần diễn giảng của mình đã không hề né tránh kết quả dự báo sai lệch nên tự chế nhạo “đây là một buổi họp kiểm thảo đối với tôi”.
Số là trước đó 6 ngày số liệu vĩ mô của nền kinh tế quý I đã được công bố, GDP so với cùng kỳ năm ngoái tăng 7,7%, trong khi cách đó mấy hôm các cơ quan chuyên môn vẫn phổ biến dự báo con số này sẽ là trên 8%, còn dự báo của Giáo sư Tống Quốc Thanh là 8,3%. Số liệu bình quân của các con số dự báo thuộc 29 cơ quan chuyên ngành được Trung tâm nghiên cứu kinh tế vĩ mô Trung Quốc, Đại học Bắc Kinh, mời dự hội nghị đã cho kết quả trung bình là 8,2%. Giáo sư Tống Quốc Thanh vì thế đã tự cảm thấy không được “vẻ vang”.
Điều trớ trêu là, quy mô huy động vốn xã hội quý I lại tăng mạnh, đạt 616 triệu nhân dân tệ, tăng 22.700 nhân dân tệ so với cùng kỳ năm trước. Sai số linh động của các số liệu lớn như vậy khiến cho chúng không những không thống nhất mà còn xa rời hẳn với nền kinh tế thực thể. Theo cách nhìn nhận của rất nhiều nhà kinh tế, phía sau sự “xa rời” nói trên đã tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Chủ tịch Hội đồng quản trị của cơ quan tài chính có tên “Vốn Xuân Hoa” Hồ Tổ Lục cho biết nợ chưa trả của các địa phương là rủi ro lớn nhất của nền kinh tế Trung Quốc. Vào trung và hạ tuần tháng 4, thậm chí đã có cơ quan tài chính ngừng cho địa phương vay tiền.
Theo tìm hiểu của “Tuần tin tức Trung Quốc”, phía sau sai số của các số liệu nói trên là thực tế “vay mới để trả cũ” liên quan đến con số nợ khổng lồ trên mặt bằng huy động vốn của các chính quyền địa phương. Nói cách khác, những con số với mức độ sai số lớn nói trên hoàn toàn chưa gắn vào với các lĩnh vực kinh tế thực thể, và như vậy “quả bom nổ chậm” đang ngày càng lớn thêm. Vì thế, một loạt chính sách từ cuối năm 2012 đến nay cho thấy Chính phủ trung ương đã phải ra tay, việc “tháo bom nổ chậm” đang được thúc đẩy một cách ổn định.
1- Đầu tư tài chính “trở mặt”
Cuối tháng 5 năm 2012, công tác xây dựng kinh tế cơ bản của Chính phủ đã kích thích khởi động trở lại, kéo nền kinh tế vĩ mô sau tháng 5 đã trở lại khởi sắc, quý 4 năm 2012 ấm lên khiến không ít nhà kinh tế nhận định kinh tế Trung Quốc đi đến phục hồi.
Nhận định lạc quan nói trên trước ngày 15/4/2013 vẫn còn tiếp tục. Ngày 12/4 Công ty trách nhiệm hữu hạn tài chính quốc tế Trung Quốc (CICC) công bố báo cáo, đánh giá một cách “bảo thủ” về GDP quý I tăng 8,1%, cho rằng mặc dù tốc độ tăng trưởng về sản xuất công nghiệp quý I có thể giảm nhẹ so với quý IV năm trước, nhưng bất động sản quý I vẫn tăng rõ rệt, có hy vọng thúc đẩy GDP tăng nhẹ trở lại.
CICC dẫn ra một loạt số liệu, “chứng thực” cho lôgích này. Trước hết, diện tích bất động sản tiêu thụ từ tháng 1 đến tháng 2 trong cả nước tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng trong tháng 3 có phần giảm nhưng vẫn ở mức cao. Xét tỉ trọng của ngành bất động sản trong GDP chiếm khoảng 6% thì tốc độ tăng cao của ngành này có thể hy vọng sẽ đóng góp trong GDP quý I là 1,8%, tăng gần 1% so với quý IV của năm trước, “đủ để triệt tiêu xu hướng chậm lại của ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ khác”.
Thứ hai, đầu tư phát triển bất động sản tăng từ 18% trong quý IV năm ngoái lên đến 23% trong quý I, từ đó thúc đẩy đầu tư tài sản cố định trên tổng thể tăng nhẹ. Đầu tư tài sản cố định tăng trở lại khiến có hy vọng kéo theo giá trị gia tăng của ngành xây dựng vốn dĩ chiếm khoảng 7% GDP tăng lên nhanh hơn.
Ngoài ra, với sự tác động từ việc tiêu thụ bất động sản, hoạt động tín dụng quý I tăng tương đối nhanh, khoản tiền cho các chủ hộ có quyền sở hữu bất động sản vay đã tăng 476,6 tỉ nhân dân tệ so với cùng kỳ năm trước. CICC cho rằng hoạt động tín dụng tăng như vậy sẽ khiến cho giá trị gia tăng về nghiệp vụ tài chính vốn chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong ngành nghề thứ ba (các ngành văn hóa-giáo dục-dịch vụ-du lịch…ngoài nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp-xây dựng) tăng lên mạnh.
Tuy nhiên, sau khi công bố số liệu vĩ mô của quý I, ngày 22/4, khi CICC công bố báo cáo vĩ mô của kỳ mới nhất, tiêu đề “trở mặt” trong báo cáo là sự “tiếp tục của sự phục hồi yếu”, cách đề cập cũng theo đó thay đổi. Trong báo cáo có nói giá trị gia tăng trong các ngành bất động sản, tài chính và xây dựng trong quý I có phần tăng lên nhưng vẫn không thể bù lại phần chậm lại trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tiêu dùng và ngành nông nghiệp.
Số liệu của Cục Thống kê nhà nước cho thấy trong quý I năm nay tiêu dùng đóng góp 4,3% trong GDP, giảm 1,9% so với năm ngoái.
Tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng cũng phản ánh thông tin tương tự: Tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng quý I tăng 12,4%, sau khi điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ, tỉ lệ tăng so với quý trước là -0,7%, một con số thấp kỷ lục trong lịch sử.
Bởi nhu cầu tiêu dùng giảm, đồng thời đầu tư trong ngành chế tạo cũng vẫn tiếp tục giảm nên nhu cầu cuối cùng vì thế cũng không có được chuyển biến tích cực về thực chất, thực tế này đã đem lại áp lực điều chỉnh mới đối với tình hình tồn đọng kho. Đồng thời mức độ giảm trong giá cả xuất xưởng hàng công nghiệp (PPI) của quý 1/2013 so với quý IV/2012 cũng mở rộng hơn nên trong điều kiện giá cả hàng công nghiệp vẫn tiếp tục giảm, động cơ để cho “hàng đọng kho” của doanh nghiệp trông đợi giá cao lên cũng tiếp tục giảm xuống.
Nhà kinh tế hàng đầu của CICC Bành Văn Sinh nhận định: Tiêu dùng không mạnh và tồn đọng kho của công ty là hai nhân tố lớn, là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho tăng trưởng của GDP đi xuống.
2-“Mức độ dung thứ” đối với dự báo sai lệch
Phía sau việc “dung thứ” cho xu hướng kinh tế đi xuống của tầng quyết sách là sự đi xuống về tỉ lệ tăng trưởng tiềm tàng và chuyển biến tích cực trong tình hình việc làm.
Con số của Bộ Nhân lực và An sinh xã hội cho thấy năm 2012 Trung Quốc đại lục đã tạo được 12,66 triệu việc làm mới ở khu vực thành thị, đó là mức cao nhất trong 9 năm qua, vượt trước thời hạn hai tháng so với chỉ tiêu tạo việc làm đặt ra cho cả năm. Bước sang năm 2013, trong quý I các đơn vị ở khu vực thành thị đã tạo được hơn 3 triệu việc làm mới. Tuy nhiên, con số điều tra về tình hình nông dân của Cục thống kê nhà nước cho thấy số nông dân bỏ nông thôn ra ngoài làm thuê trong quý I tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Số liệu của Bộ Nhân lực và An sinh xã hội còn cho thấy tỉ lệ giữa cung và cầu về sức lao động cũng tăng từ 1/1,05 của quý I năm ngoái lên thành 1/1,1 trong quý I năm nay, chỉ số về mức cung không đủ cầu như vậy đã tiếp tục mở rộng.
Tại buổi họp báo ngày 15/4, Người phát ngôn báo chí Cục thống kê nhà nước Thịnh Lai Vận cho biết trước khi có được bước đột phá lớn về kỹ thuật, hiệu quả và lợi ích cận biên từ việc đầu tư cho các yếu tố sản xuất có phần giảm đi, nói cách khác, theo quan điểm kinh tế học là phát triển đến một giai đoạn nào đó, nhất là sau khi bước vào thời kỳ chuyển đổi kết cấu sẽ đứng trước hiện tượng cận biên phổ biến như vậy (càng về sau, hiệu quả cũng như giá trị và lợi ích của đầu tư sẽ càng giảm đi vì sẽ càng tiến gần hơn đến điểm bão hòa so với nhu cầu đòi hỏi-ND). Giống như các nước Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc trước đây, trong thời kỳ chuyển đổi mô hình phát triển, tỉ lệ tăng trưởng tổng hợp của các nước này đều đã giảm xuống một mức so với trước. Trung Quốc sau hơn 30 năm phát triển, năng suất lao động tiềm tàng có phần giảm đi, đó là xu hướng tất yếu sau khi xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định nào đó.
Hai năm gần đây, Báo cáo công tác của Chính phủ đều xác định mức tăng trưởng GDP một năm là 7,5%, chính là đã đi theo hướng như vậy. Áp lực việc làm ở đất nước đông dân số nhất thế giới đã giảm thì cố gắng vượt qua mức tăng trưởng tiềm tàng để kéo nền kinh tế tăng trưởng cao là việc không thích hợp. Cuối năm 2012 thái độ của chính phủ trung ương đã thay đổi hẳn, chi ngân sách đã không theo cách “tiêu tiền gấp” như trước. Theo học giả Tống Quốc Thanh, đây là nguyên nhân căn bản của kinh tế quý I tăng trưởng chậm lại, cũng là biến lượng cơ bản khiến có sự sai lệch trong cách dự tính của mình về mức tăng trưởng.
Theo cách tính của Tống Quốc Thanh, năm 2012 mức chi trong dự toán ngân sách chỉ là 14,1% nhưng vào thời điểm tháng 7 mức chi này vẫn còn cao ở mức 23,4%. Trong bối cảnh không tăng dự toán, “quý IV sẽ phải thắt chặt chi tiêu mạnh mẽ”. Tống Quốc Thanh nói chi ngân sách tháng 12 luôn cao hơn các tháng 1 và 2 nhiều lần, vì thế số chi của tháng 12 dù có tăng chút ít so với cùng kỳ năm trước thì các tháng 1-2 cũng rất khó có thể bù lại được.
Tài liệu trong kho dữ liệu Chứng khoán Quang Đại cho thấy tháng 12/2012 chi ngân sách là 208,2 tỉ nhân dân tệ, chỉ tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, không những thấp hơn nhiều so với mức 23,4% trong các tháng 1- 7 mà cũng thấp hơn cả mức tăng bình quân 14,1% của cả năm. Nói cách khác, con số tuyệt đối về mức chi tài chính ngân sách tháng 12 đã giảm từ 20 tỉ đến 40 tỉ nhân dân tệ.
Bước sang năm 2013, tốc độ tăng về chi ngân sách chỉ vừa bắt đầu trở lại, mức tăng ở các tháng 1 và 2 là 19,1% và 12,2%. Tuy nhiên, bởi giá trị tuyệt đối về chi ngân sách các tháng 1 và 2 thường vẫn thấp, lần lượt với các mức chi là 83,7 tỉ và 77,4 tỉ nhân dân tệ, như vậy vẫn khó bù lại được cho con số chi “mất máu” của tháng 12.
Giảm chi tiêu tài chính cũng đồng thời phải thực hiện theo đòi hỏi về chống tham nhũng. Đầu tháng 12/2012, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ban hành “Quy định 8 điểm về cải tiến tác phong làm việc, quan hệ chặt chẽ với quần chúng”. Sau đó, tiêu dùng cho ẩm thực cao cấp có giảm.
Theo Cục thống kê nhà nước, nhìn từ con số phân theo ngành nghề về tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng, tỉ lệ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước của ngành ẩm thực đã giảm từ 14,6% trong quý IV năm ngoái xuống còn 8,5% trong quý I năm nay. Trong đó, mức tăng trong quý I của các đơn vị thuộc ngành dịch vụ ăn uống lớn trên mức hạn ngạch được ấn định (các cửa hàng ăn uống cao cấp, thu nhập chiếm trên 50% toàn bộ thu nhập của các doanh nghiệp ngành dịch vụ ăn uống) đã trượt xuống đến -2,6%. Nhà kinh tế Bành Văn Sinh cho biết đó là nguồn sức mạnh chủ yếu làm tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng giảm đi.
3-“Tháo gỡ bom nổ chậm”
Tỉ lệ tăng trưởng tiềm tàng giảm và tình hình việc làm chuyển biến tốt còn tạo không gian cho tầng quyết sách “tháo ngòi quả bom nổ chậm” về rủi ro tài chính. Tháng 6/2012, trong nội bộ, Giám đốc Ngân hàng nhân dân Chu Tiểu Xuyên đã nói: Ở Trung Quốc hiện nay ngân hàng huy động vốn ở cả hai đầu, kinh tế của anh tăng trưởng nhanh thế, tiền cho vay của tôi cũng phải tăng 10%. Như vậy, rõ ràng là trong bối cảnh tỉ lệ tăng giảm xuống, thu hẹp vốn đã trở thành sự lựa chọn của tầng quyết sách. Bản kỷ yếu vào đầu tháng 12/2012 về Hội nghị báo cáo của ủy ban quản lý giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc đối với tình hình kinh tế tài chính quý III/2012 cho biết từ quý IV Chủ tịch ủy ban Thượng Phúc Lâm đã cảnh báo về rủi ro tài chính. Chủ tịch Thượng Phúc Lâm nói từ năm 2012 do ảnh hưởng của các yếu tố như tiền vay tập trung đáo hạn phải trả, thu ngân sách của địa phương giảm mạnh, các dự án không có khả năng kịp thời đầu tư sản xuất… nên áp lực bồi hoàn trả nợ tăng lên, ý nguyện và khả năng trả nợ đều giảm, các khoản nợ quá hạn của không ít địa phương lần lượt nổi lên, xu hướng nợ xấu cho thấy rõ rệt, đồng thời còn lộ rõ xu hướng mở rộng từ điểm ra đến diện rộng hơn.
Vào thời điểm đó ông Thượng Phúc Lâm đã nêu rõ đối với các khoản nợ thuộc diện đi ngược lại chính sách nhưng lại bằng mọi danh nghĩa để “lòng vòng lảng tránh” thì phải áp dụng biện pháp xiết nợ. Phải nắm vững một cách toàn phương vị về tình hình mà mặt bằng chung là thông qua các kênh như trái phiếu, ủy thác… để huy động vốn.
Ngày 24/12/2012, 4 bộ ngành trong đó có Bộ Tài chính, ủy ban quản lý giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc… đã ra một văn bản liên ngành số 463 có tên “Thông tri về việc ngăn cấm các chính quyền địa phương huy động vốn đầu tư trái pháp luật”, triển khai đợt hoạt động “tháo gỡ bom” đầu tiên.
Bước sang năm 2013 tại một số hội nghị, Quốc vụ viện (Chính phủ) khóa mới đã nhấn mạnh “ổn định tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, đề phòng rủi ro”, rõ ràng có khác với chủ trương trước đây là “ổn định tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, điều chỉnh kết cấu”. Trong bối cảnh đó, biện pháp “đề phòng rủi ro” đã liên tiếp được đưa ra. Ngày 27/3, ủy ban quản lý giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc đã công bố văn bản số 8 năm 2013 có tên “Thông tri của ủy ban quản lý giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc về những vấn đề liên quan đến nghiệp vụ đầu tư của Ngân hàng thương mại”; Ngày 15/4, Ủy ban quản lý giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc công bố văn bản số 10 năm 2013 của ủy ban là “Ý kiến chỉ đạo quản lý giám sát rủi ro vay vốn trên bình diện đầu tư của chính quyền địa phương năm 2013”, tiếp tục “gỡ bom” về rủi ro tiềm tàng trong hệ thống tài chính.
Phan Hướng Đông, nhà kinh tế hàng đầu của Công ty chứng khoán Ngân Hà cho biết “chính sách đã bắt đầu chuyển biến”. Việc chuyển biến tư duy trong tầng quyết sách có thể thấy được qua hai lần thể hiện thái độ của Chủ tịch ủy ban giám sát quản lý chứng khoán Trung Quốc Tiêu Cương trong tháng 9 và tháng 11 năm 2012, nói rằng hiện nay sản phẩm hoạt động thông qua vận hành của “Trung tâm vốn” do ngân hàng phát hành, bởi có hiện tượng không ăn khớp nhau về kỳ hạn, phải dùng cách “phát hành mới để trả nợ cũ” nhằm thỏa mãn trả nợ đáo hạn nên về bản chất là “kiểu lừa Ponzi” (một kiểu đánh lừa cổ điển nhất và thông thường nhất trong hoạt động chứng khoán, thủ phạm ban đầu nghĩ ra cách đánh lừa là Charles Ponzi từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất-ND). Bởi đến lúc nào đó nhà đầu tư mất lòng tin, giảm hoặc từ bỏ sản phẩm tài chính thì chuỗi vốn sẽ bị đứt lìa, người bị thiệt hại lợi ích vẫn là nhà đầu tư.
Đối với việc “tháo quả bom” rủi ro tài chính, Phan Hướng Đông cho rằng như vậy cũng có tác dụng buộc phải hành động, Trung ương và địa phương sẽ buộc phải chấp nhận giảm bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Sáu, ngày 17/5/2013

 

SỰ SỤP ĐỔ CỦA MOSRI LÀM PHÁ SẢN HỌC THUYẾT CỦA OBAMA

TTXVN (Pretoria 18/7)
Theo mạng “Tin Trung Đông” ngày 5/7, chính sách của Tổng thống Mỹ Barack Obama đối với thế giới Arập và Hồi giáo được sinh ra tại Cairo và cũng chết yểu tại đây.
Ngày 4/6/2009, Obama đã có bài phát biểu tại trường Đại học Cairo với chủ đề “Một sự khởi đầu mới”. Với mục tiêu phát đi tín hiệu muốn hàn gắn mối quan hệ rạn nứt giữa Mỹ với thế giới Arập và Hồi giáo sau 8 năm thực hiện chính sách chống Hồi giáo của Chính quyền Bush, sự kiện này nhận được sự ủng hộ của Đại học Al-Azhar (Trung tâm học thuật và thần học Hồi giáo nổi tiếng). Thật trùng lặp khi Hiệu trưởng trường Đại học Al- Azhar, Tiến sỹ Ahmed al-Tayyeb (từng tham gia tranh cử tổng thống) và cựu nhân viên ngoại giao Ai Cập tại Liên Hợp Quốc Mohamed ElBaradei cùng Giáo chủ giáo phái Coptic Tawadros là những nhân vật đã hậu thuẫn cho lực lượng quân đội Ai Cập lật đổ Tổng thống Mohamed Morsi.
Thật kỳ lạ là Chính quyền Obama (vốn ủng hộ mạnh mẽ Morsi thông qua Đại sứ Mỹ tại Cairo, Anne Patterson) lại không gọi hành động quân đội bắt giữ Morsi và các bộ trưởng hàng đầu trong chính phủ là “cuộc đảo chính quân sự”. Một nhà hoạch định chính sách nổi tiếng của Mỹ, tác giả đạo luật Leahy, Thượng nghị sỹ đảng Dân chủ, Chủ tịch ủy ban Tư pháp Thượng viện Patrick Leahy đã yêu cầu Chính phủ Mỹ cắt viện trợ quân sự cho Ai Cập sau cuộc đảo chính. Theo quy định của luật pháp Mỹ, nếu chính phủ được thành lập bằng bầu cử bị đảo chính quân sự lật đổ thì Washington cần phải chấm dứt khoản viện trợ quân sự 1,3 tỷ USD thường niên cho Ai Cập. Tuy nhiên, các thành viên đảng Cộng hòa tại Quốc hội Mỹ, đặc biệt là những nhân vật ủng hộ Ixraen vô điều kiện, lại ủng hộ cuộc đảo chính, yêu cầu Obama và Ngoại trưởng John Kerry sử dụng các căn cứ pháp lý để khước từ yêu cầu của đạo luật Leahy. Thực tế, điều duy nhất khiến đảng Cộng hòa quan tâm chỉ là lợi nhuận của các nhà thầu quân sự Mỹ và Ixraen chứ không phải là vấn đề chính phủ dân chủ được bầu vừa bị lật đổ bằng đảo chính quân sự chớp nhoáng.
“Xử lý bất ổn” là nhiệm vụ chính của “Trách nhiệm bảo vệ-R2P” mà Cố vấn An ninh quốc gia Susan Rice, người thay thế bà làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Samantha Power, Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes và các cộng sự thân cận của tỷ phú Mỹ George Soros nắm giữ các vị trí trong Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng, đang đề cập đến. Đối lập với quan điểm R2P là những nhân vật “hiếu chiến” trong Bộ Quốc phòng như Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Martin Dempsey.
Rõ ràng viện trợ quân sự của Mỹ đối với Ai Cập sẽ phải tiếp tục được thực hiện nhằm xoa dịu giới quân sự Ai Cập về những gì mà Đại sứ Mỹ Patterson đã công khai gia tăng ủng hộ Morsi trong khi Tổng thống Ai Cập ngày càng trở nên cứng đầu cứng cổ, không chịu thỏa hiệp với phe đối lập khi số này ngày càng thêm bất bình về cách thức cầm quyền độc đoán của tổng thống. Hành động công khai của Morsi kêu gọi người dân Ai Cập ủng hộ các phần tử cực đọan Salafi và thánh chiến Wahabi ở Xyri chống lại Chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad là “giới hạn đỏ” cuối cùng đối với quân đội, khiến lực lượng này phải hành động.
Đại sứ Patterson đã thất bại và buộc phải thừa nhận sức mạnh và tầm quan trọng của phe đối lập thế tục chống Morsi và kêu gọi người biểu tình rời khỏi đường phố và hành động trong khuôn khổ hiến pháp Hồi giáo. Patterson có bề dày ủng hộ chế độ độc tài và bạo chúa. Trong thời gian làm Đại sứ tại Pakixtan, bà đã thất bại trong việc ủng hộ lãnh đạo phe đối lập Benazir Bhutto (người trở về nước sau thời gian sống lưu vong, bị thiệt mạng trong vụ ám sát tại thành phố Rawalpindi, ngay sau khi bà này kết thúc bài diễn thuyết trong một cuộc vận động tranh cử). Khi đảm nhiệm cương vị Đại sứ tại Colombia, Patterson đã thúc đẩy “Kế hoạch Colombia”, một chương trình viện trợ quân sự của Mỹ cho lực lượng bán quân sự của Colombia tàn sát hàng trăm dân thường vô tội. Tờ Washington Post, một cơ quan ngôn luận đáng tin cậy của Lầu Năm Góc và CIA, đã gọi Patterson là “bàn tay rắn” tại Bộ Ngoại giao.
Việc Morsi cắt đứt quan hệ với Damascus và công khai sự ủng hộ của mình đối với các phần tử thánh chiến Jihad là quá đủ đối với quân đội Ai Cập. Patterson và nhân vật chủ chốt khác nữa trong Chính quyền Obama là John O. Brennan, Giám đốc Cơ quan tình báo CIA, ủng hộ phong trào Salafis ở Trung Đông, người liên tục thực hiện các cuộc hành hương Hadj đến Mecca khi còn là Trưởng trung tâm tình báo CIA ở thủ đô Riyadh (Arập Xêút), rõ ràng đang cố gắng khắc phục tình hình sau khi Morsi bị lật đổ. Việc một nhân tố chủ chốt như Morsi bị lật đổ cùng Quốc vương Arập Xêút và Cata – những nhà lãnh đạo khu vực chịu ảnh hưởng của chính sách Obama – đã chứng tỏ rằng dù thế tục hay chuyên chế thì giới lãnh đạo Arập đều sẽ bị lật đổ giống như ở Tuynidi, Ai Cập, Libi và Yêmen.
Cộng đồng Shiite ở Trung Đông, tiêu biểu là Iran và Hezbollah; cộng đồng thiểu số người Alawite mà đại diện là Chính quyền Assad và đảng thế tục đối lập Đảng Cộne hòa Nhân dân (CHP) của Thổ Nhĩ Kỳ và lãnh đạo ngưòi Alawite (Alevi) của tổ chức này là Kemal Kililcdaroglu; khối Thiên chúa giáo của khu vực, đại diện là Tổng thống Libăng Michel Suleiman và những nhân vật ủng hộ Assad người Thiên chúa giáo trong nội các Libăng cũng như các nước Ácmênia, Nga, Hy Lạp, Vatican đã nỗ lực chứng minh cho mọi người thấy rằng các phần tử Salafist, trong đó có cả Al-Qaeda, đang cố gắng biến Xyri thành “hoang mạc cát”. Sau khi Obama cho phép cung cấp vũ khí cho lực lượng nổi dậy Xvri (chủ yếu gồm các chiến binh thánh chiến nước ngoài từ Ápganixtan, Irắc, Libi, Xômali và Yêmen), những phần tử không chịu chấp nhận chứng kiến Trung Đông nằm dưới sự lãnh đạo của khói Wahabi Sunni do Cata và Arập Xêút đứng đầu vốn nhận được hậu thuẫn ngầm từ Ixraen và Mỹ, đang bắt đầu hành động. Và quân đội Ai Cập cần phải đi trước một bước.
“Học thuyết Obama” vốn chủ trương kêu gọi ủng hộ chính trị, tài chính để lật đổ các chính quyền thế tục với di sản của chủ nghĩa xã hội toàn Arập, sau đó hỗ trợ quân sự thông qua bên thứ ba giống như NATO và Hội đồng hợp tác vùng Vịnh của các chế độ quân chủ, đã bị chết yểu tại Quảng trường Tahrir trong bối cảnh “Mùa Hè Arập”. Nhiều người dân Ai Cập tổ chức ăn mừng việc Morsi bị lật đổ và tuyên bố họ hy vọng Washington giờ đây sẽ thẳng tay triệu hồi Đại sứ của mình từ Cairo về nước. Đại sứ Patterson từng được các đối thủ của cựu Tổng thống gán cho biệt danh là “bạn gái của Morsi”.
Mặc dù Kemal Kilicdaroglu, lãnh đạo CHP – phe đối lập chính ở Thổ Nhĩ Kỳ – lên án cuộc đảo chính quân sự tại Ai Cập nhưng ngôn từ của ông này mang nhiều sắc thái và có một cảnh báo rõ ràng không chỉ nhằm vào Morsi và chính quyền vừa bị lật đổ của Anh em Hồi giáo, mà còn đối với chính phủ theo định hướng Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ của Thủ tướng Tayyip Erdogan. Lãnh đạo phe đối lập Thổ Nhĩ Kỳ (CHP), người từng chỉ trích sự ủng hộ của Erdogan đối với phiến quân Xyri chống lại Assad và chiến thuật mạnh tay của Erdogan trong việc đàn áp người biểu tình trong nước đã tuyên bố: “Không thể chấp nhận được trong một thế giới ngày nay mà vẫn tồn tại trạng thái vô cảm trước đòi hỏi của người dân, phớt lờ người dân và tuyên bố rằng tôi giành được đa số phiếu bầu và tôi có quyền làm bất cứ điều gì tôi muốn”.
Mặc dù một số chuyên gia phân tích Thổ Nhĩ Kỳ nghi ngờ Erdogan có thể giẫm vào vết xe đổ của Morsi theo kiểu bị đảo chính quân sự, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ không có truyền thống về những kiểu đảo chính và can thiệp như trên nên khả năng Erdogan bị lật đổ hoàn toàn có thể được loại trừ. Tuy nhiên, sự sụp đổ của Morsi đã giáng một đòn mạnh mẽ vào những nỗ lực của Erdogan, Mỹ và các phần tử cấp tiến Sunni trong khi tìm cách lật đổ Tổng thống Assad. Kililcdaroglu đã khiến Erdogan phải đối mặt với các cuộc tấn công liên tục về sự ủng hộ của CHP đối với Assad.
Trong bài phát biểu tại Damascus, Tổng thống Xyri rõ ràng đã được tiếp thêm động lực từ sự sụp đổ của Morsi. Ông Assad phát biểu trên đài truyền thanh Xyri rằng: “Những gì đang xảy ra tại Ai Cập là sự sụp đổ của cái gọi là Hồi giáo chính trị. Sự nổi lên của Hồi giáo chính trị là kết quả trực tiếp từ bài phát biểu tại trường Đại học Cairo của Tổng thống Obama và việc Mỹ bật đèn xanh đối với nền công nghiệp dân chủ của các nhà hoạt động chính trị, kỹ thuật viên mạng lưới xã hội, chuyên gia cố vấn dân chủ, các nhà báo và các chuyên viên chuyên nghiệp gây rối loạn xã hội khác đang tấn công Trung Đông. Bất kỳ nơi nào trên thế giới, bất kỳ ai sử dụng tôn giáo vì mục đích chính trị hay chỉ nhằm phục vụ một số nhóm người nhất định mà không phải là dành cho đa số thì sẽ bị sụp đổ. Bạn không thể đánh lừa tất cả mọi người mọi lúc được, hãy để chính người dân Ai Cập, những người sở hữu nền văn minh cổ đại hàng nghìn năm, những người biết rõ ràng mọi điều tự quyết định vận mệnh cho chính họ”. Bài phát biểu của Assad không chỉ nhằm trực tiếp vào số quan chức Anh em Hồi giáo ở Xyri mà còn hướng đến những nhân vật lãnh đạo của các quốc gia vùng Vịnh, đặc biệt là Quốc vương mới của Cata Sheikh Tamim bin Hamad AI Thani, một thành viên Anh em Hồi giáo từng tài trợ tài chính cho các phiến quân Salafi ở Xyri và những khu vực khác. Mặc dù Sheikh Tamim đã gửi lời chúc mừng đến Tổng thống lâm thời Ai Cập Adli Mansour nhưng đài truyền hình AI Jazeera thuộc sở hữu của Cata đã bị chính phủ mới của Ai Cập ra lệnh đóng cửa đầu tiên. Đây là hãng truyền thông đã và đang tiếp sức cho các phần tử nổi dậy cực đoan Sunni trên toàn thế giới. Ngoài ra, các đài truyền hình của Anh em Hồi giáo và Salafi tại Ai Cập cũng bị đóng cửa.
Chính phủ lâm thời mới của Ai Cập là nguồn động viên khích lệ mới đối với Assad, lực lượng Hezbollah ở Libăng và phe đối lập thế tục của Thổ Nhĩ Kỳ để có thêm động lực giành chiến thắng chống lại các phần tử âm mưu muốn kéo giật lùi Trung Đông trở về thế kỷ 13. Học thuyết Obama đã bị phá sản tại Quảng trường Tahrir. Trong khi Mỹ kỷ niệm ngày Quốc khánh 4/7 thì người dân Ai Cập cũng kỷ niệm ngày giành độc lập từ một chính quyền là sản phẩm ngầm của các nhà hoạch định chính sách Mỹ.
Nguồn: THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Hai, ngày 23/7/2013