Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2020

 Phiên tòa kết hợp hài hòa giữa sự nghiêm minh và tính nhân văn

Ngày 14-9, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án "Giết người" và "Chống người thi hành công vụ" xảy ra tại xã Ðồng Tâm (Mỹ Ðức, Hà Nội) kết thúc, Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND thành phố Hà Nội đã tuyên án phạt đối với 29 bị cáo. Tiếp cận vụ án từ góc độ một luật sư người Mỹ gốc Việt đang hành nghề tại Mỹ, Luật sư Hoàng Duy Hùng đã gửi tới Báo Nhân Dân bài viết bàn về một số vấn đề liên quan phiên tòa. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Trước hết, phải nhấn mạnh rằng, trong lúc đất nước đang sống trong thời bình mà ba chiến sĩ công an lại phải hy sinh vì chính những người vẫn rêu rao là "vì nhân dân, chống tham nhũng" như "tổ đồng thuận" đó là điều rất đau lòng cho mọi người dân Việt Nam quan tâm tới đất nước, đó cũng là một trong các lý do quan trọng nhất để rất nhiều người quan tâm theo dõi vụ án. Và tôi nhận xét vụ án có một số điểm nổi bật như sau:

1. Vụ án này là vụ án hình sự, không phải vụ án chính trị song một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo lại muốn đánh tráo khái niệm, họ gọi đây là vụ án "mang đầy màu sắc chính trị" như một luật sư đã đăng trên trang Facebook của ông ngay ngày đầu xử án. Vấn đề cơ bản nhất là lúc đầu số người hùa theo "tổ đồng thuận" đã không hiểu luật một cách đúng đắn. Ở Việt Nam, đất đai là của Nhà nước, người dân được trao quyền sử dụng, khi cần sử dụng cho việc chung (như xây dựng công trình công cộng, công trình quốc phòng,... thì Nhà nước thu hồi, đền bù). Ở Mỹ và châu Âu cũng có luật Eminent Domain tương tự như vậy. Ðất Ðồng Sênh là đất của sân bay Miếu Môn, là đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Từ những năm 1980, khi là Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch UBND xã Ðồng Tâm, ông Lê Ðình Kình đã cắt đất bán cho sáu hộ dân một cách bất hợp pháp. Sau đó, sáu hộ đó sang tay và nhân lên thành 14 hộ. Khi thu hồi, Nhà nước đã điều đình, đền bù cho 14 hộ, họ nhận tiền, vui vẻ di dời. Các nhân chứng cho biết ông Lê Ðình Kình cùng "tổ đồng thuận" gây áp lực không cho các chủ hộ này dời đi, rồi hăm dọa, thậm chí đánh đập một số chủ hộ.

Gia đình ông Lê Ðình Kình và các bị cáo không có một mét vuông đất ở Ðồng Sênh sao lại gọi là tranh chấp đất đai? Các bị cáo thú nhận ông Lê Ðình Kình cho họ ăn "bánh vẽ" mỗi mét vuông giá sáu triệu đồng để khơi dậy lòng tham, kích động họ vi phạm pháp luật. Tôi lấy làm tiếc khi lòng tham đã che khuất lý trí của họ. Dù từ khi sự việc xảy ra, chính quyền đã tổ chức gặp gỡ, thảo luận, báo chí tuyên truyền, phổ biến các điều luật liên quan, chỉ rõ hành vi sai trái, kêu gọi tuân thủ pháp luật nhưng họ vẫn không nhận thức để tự giác điều chỉnh hành vi. Hơn nữa, khi lực lượng chức năng thực hiện biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự, ông Lê Ðình Kình cùng đồng phạm đã có kế hoạch chống trả từ trước, cho nên không thể coi việc giết hại công an một cách rất dã man lại thuộc về lĩnh vực "chính trị".

2. Trước, trong và sau khi phiên tòa được tổ chức, một số tổ chức, cá nhân đã cố gắng "quốc tế hóa" vụ án để kích động. Từ ngày 9-1-2020, khi vụ án xảy ra, các tổ chức chống cộng ở nước ngoài, nhất là tổ chức khủng bố "Việt tân", đã ráo riết tiếp cận một số chính phủ để rêu rao Nhà nước Việt Nam "giết" ông Lê Ðình Kình, đề nghị họ can thiệp. Tội nghiệp thay cho đến nay, không có bất kỳ chính phủ nước nào lên tiếng can thiệp. Vì làm sao can thiệp khi cơ quan cảnh sát điều tra có đủ tang chứng, nhân chứng, vật chứng và lời thú tội của các bị cáo. Chưa kể, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều có chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi sai phạm này.

Ở Mỹ, án lệnh của Tối cao Pháp viện trong vụ Graham v. Connor (Gờ-ra-ham Co-nơ), 490 U.S. 386 (1989) cho phép cảnh sát dùng vũ lực bắn chết nghi phạm trong cả các trường hợp dân sự nếu cảnh sát cảm thấy tính mạng của mình bị đe dọa. Chánh Thẩm phán lúc đó là W.Rehnquist (W.Ren-quýt) viết án lệnh như sau: "Các cảnh sát viên phải quyết định chỉ trong tích tắc, rất căng thẳng, không chắc chắn tình thế ra sao cho mình, nên áp dụng bạo lực cần thiết là điều có lý (reasoanable)". Căn cứ các bài viết và những hình ảnh công bố trên Facebook trước đó thì "tổ đồng thuận" đã chuẩn bị bom xăng, dao bầu, dao chọc, dao phóng lợn, bình ga, lựu đạn,... thề sẽ giết chết "từ 300 đến 500" công an thì rõ ràng, đó là một nhóm khủng bố cần áp dụng bạo lực cần thiết nếu họ chống người thi hành công vụ. Ở Mỹ, khi cảnh sát tiến vào mà một người cầm lựu đạn đòi ném vào cảnh sát thì không những họ bắn chết một mình người đó, mà bắn luôn cả những ai có mặt, không chỉ bắn một phát súng mà bắn cả một băng đạn. Vì luật pháp của Mỹ cũng như các quốc gia phương Tây như thế và trước vật chứng, nhân chứng, lời thú tội của các bị cáo, cho nên không nhà nước nào lên tiếng hoặc can thiệp vào vụ án xảy ra ở Ðồng Tâm, và đã làm cho những người chống phá Nhà nước Việt Nam bị nhục nhã, tẽn tò.

3. Tôi thấy tính nhân văn, lượng khoan hồng của luật pháp Việt Nam rất cao khi Viện Kiểm sát nhân dân chuyển 19 người từ tội danh "giết người" sang tội danh "chống người thi hành công vụ". Ở Mỹ, dù có khoan hồng, họ chỉ chuyển đổi tội "giết người" sang tội "đồng lõa giết người" với mức án chí ít cũng 20 năm hoặc chung thân. Viện Kiểm sát nhân dân quyết định đổi tội danh vì các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm và ăn năn, hối hận. Họ cũng nói rõ tự nguyện nhận lỗi để được khoan hồng chứ không bị bức cung. Chính ông Bùi Viết Hiểu, không cần tham khảo với luật sư của ông, đã bất ngờ giơ tay phát biểu thay đổi lời khai, thú nhận lỗi lầm. Theo tôi, từ hành động của ông Bùi Viết Hiểu và các bị cáo khác, mà ông mới được nhận mức án từ 16 đến 18 năm tù, còn cứ nghe cố vấn của luật sư để cố cãi theo chiều hướng vô tội, có thể sẽ bị đề nghị mức án cao hơn.

4. Theo tôi, một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo trong vụ án có biểu hiện không bình thường. Hoạt động nghề nghiệp của mấy luật sư này tại phiên tòa khiến bị cáo nản lòng, nên trước ngày tranh luận cuối cùng, một số người công khai không nhờ luật sư biện hộ nữa, đó là điều rất hy hữu. Luật pháp cho phép luật sư dựa trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền lợi thân chủ của mình một cách tối đa, nhưng khi đã có bằng chứng, nhân chứng, vật chứng, và lời thú tội của bị cáo thì không thể bào chữa theo hướng vô tội, mà phải bào chữa theo hướng hối lỗi để được pháp luật khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt. Nhưng mấy luật sư này không làm thế, thậm chí còn đổ lỗi cho công an. Trong lúc phiên tòa đang diễn ra, có luật sư còn lên Facebook cho rằng "lựu đạn chỉ là để tập luyện trên thao trường nên không phải là vũ khí"; một luật sư khác viết trên Facebook rằng đó là "lựu đạn rởm" không thể coi là vũ khí giết người... Nếu ở Mỹ, theo án lệnh Graham v. Connor, 490 U.S. 386 (1989) đề cập ở trên, khi tính mạng bị đe dọa, chỉ trong tích tắc cảnh sát phải quyết định có hay không bóp súng, đâu cần xác định lựu đạn "rởm" hay lựu đạn "thật" mới bắn hạ.

Công an Việt Nam quá hiền, như theo luật pháp Mỹ thì cảnh sát đã bắn cả băng đạn. Tôi đặc biệt chú ý tới sự kiện ngay ngày đầu xử án, một vị luật sư than phiền vì không được ưu tiên gửi ô-tô gần tòa án, phải đi bộ 350 m trong trời mưa, cho nên khi bước vào tòa ông quát tháo ầm ĩ, rồi than phiền về Ðoàn Luật sư Hà Nội với mấy việc không dính líu tới vụ án. Ở Mỹ, luật sư tham gia vụ án đều bị nghiêm cấm không được viết hay bình luận khi quá trình xét xử đang diễn ra. Như luật sư nọ thì nếu không bị rút bằng hành nghề, thì chí ít cũng bị tống giam vì tội khinh miệt tòa án. Tôi biết ngành tư pháp ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới rất tích cực; mấy vị luật sư này vẫn đòi cải tổ ngành tư pháp của Việt Nam. Song có lẽ với hành xử nghề nghiệp vừa qua, họ cần cải tổ nhận thức của chính mình. Cần hiểu rằng không luật pháp ở quốc gia nào cho phép luật sư hành nghề một cách phi lý, ngang ngược, vừa bào chữa trước tòa, vừa lên mạng xã hội công bố thông tin, bình luận về sự kiện đang diễn ra tại phiên tòa.

Lời kết: Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án "Giết người" và "Chống người thi hành công vụ" xảy ra tại Ðồng Tâm (Hà Nội) đã kết thúc, Tòa đã tuyên các bản án tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Và những người chống cộng cực đoan lại tiếp tục la lối, điều đó không có gì phải ngạc nhiên. Tôi rất đồng tình với bản án vì ngoài việc răn đe thì luật pháp còn có tính nhân đạo, giáo dục con người khi họ biết hối lỗi. Dù có thể có phiên tòa phúc thẩm, tôi vẫn mong những người đã phải nhận án tù sẽ cải tạo thật tốt để tiếp tục được hưởng khoan hồng, những người nhận án tù treo sẽ cố gắng sinh sống lương thiện để trở thành công dân tốt. Là một luật sư người Mỹ gốc Việt, tôi quan sát vụ án và rất tán thành cách làm việc của tòa án, trình tự rõ ràng, xử lý nhân văn, mức án đúng người, đúng tội. Qua vụ án, pháp luật Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới về sự nghiêm minh nhưng cũng đầy tính nhân văn. Cũng như trong thực tế cuộc sống đất nước hiện nay, ý Ðảng và lòng dân đã kết hợp hài hòa, triển khai rất cụ thể, hiệu quả. Phiên tòa là một bằng chứng thuyết phục, góp phần bẻ gãy những luận điệu chống phá Nhà nước Việt Nam.

HOÀNG DUY HÙNG

Nguồn: nhandan.com.vn

 “Hồi chuông” cảnh tỉnh về mối đe dọa từ an ninh sinh học - an ninh phi truyền thống

Trước đại dịch Covid-19, thế giới đã trải qua hàng chục đại dịch nguy hiểm, tàn khốc. Điển hình các đại dịch, như: dịch hạch Justinian (541 - 750 sau Công nguyên), cướp đi sinh mạng của khoảng 50 triệu người, chiếm một nửa dân số thế giới lúc bấy giờ - lần đầu tiên xảy ra đối với loài người; dịch hạch “Cái chết đen” xảy ra vào thế kỷ XIV khiến trên 75 triệu người phải bỏ mạng; bệnh đậu mùa thế kỷ XV - XVII làm khoảng 20 triệu người chết, chiếm gần 90% số dân bản địa châu Mỹ khi đó. Đại dịch tả lần đầu tiên được giới y học ghi nhận vào năm 1563 tại Ấn Độ, sau đó lan ra thế giới làm hàng chục triệu người tử vong. Đại dịch cúm: Tây Ban Nha (1918), Hong Kong (1968) làm khoảng 01 triệu người chết. Dịch bệnh HIV/AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch) được ghi nhận đầu tiên vào năm 1981, có khoảng 75 triệu người nhiễm bệnh, 32 triệu người chết, đến nay vẫn là nỗi ám ảnh của nhân loại. Gần đây là dịch SARS (2003), dịch cúm H1N1 (đầu năm 2019) làm hàng trăm triệu người nhiễm bệnh, hàng trăm nghìn người chết.

Còn đại dịch Covid-19 bùng phát, toàn thế giới chung tay đối phó với những nỗ lực rất lớn, nhiều nước có nền y học hiện đại sớm giải mã thành công bộ gene virus Corona chủng mới, từ đó đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu, sản xuất vaccine, thuốc đặc trị. Đến đầu tháng 8/2020, thế giới điều trị khỏi cho khoảng 12 triệu người nhiễm Covid-19; một số nước nghiên cứu, thử nghiệm thành công và đang có kế hoạch đưa vaccine phòng, chống Covid-19 vào sử dụng, mở ra hy vọng sớm kiểm soát được đại dịch nguy hiểm này. Tuy nhiên, những “bí ẩn” trong cơ chế lây, truyền bệnh, các biến thể của virus Corona, các loại virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm khác mà các chuyên gia y học thế giới chưa thể nghiên cứu “sâu” hoặc chưa biết đến; tình trạng dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát ở nhiều quốc gia, nhưng nguy hiểm hơn, thế giới chưa xây dựng được phác đồ điều trị Covid-19,... đó là những thách thức không nhỏ tác động đến nỗ lực phòng, chống đại dịch trên toàn cầu.

Giới chuyên gia quốc tế cho rằng, sớm muộn thì đại dịch cũng sẽ được kiểm soát, nhưng cho dù được kiểm soát thì Covid-19 đã gióng lên “hồi chuông” cảnh tỉnh thế giới về tính chất phức tạp, mức độ nguy hiểm của các loại dịch bệnh truyền nhiễm sinh học - mối đe dọa an ninh phi truyền thống đáng lo ngại nhất đối với loài người trước kia, hiện nay và sau này. Bởi lẽ, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, như: bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, kể cả khủng bố,… chỉ gây thiệt hại nặng nề trong phạm vi một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ ở một thời điểm nhất định, còn dịch bệnh truyền nhiễm có thể trở thành mối hiểm họa “giết người hàng loạt” đe dọa đến sự sống của cả nhân loại. Theo kết quả điều tra dịch tễ học, trong thế giới đương đại số ca nhiễm từ những bệnh truyền nhiễm mới, như: SARS, HIV, virus Ebola và Covid-19 tăng gấp 4 lần so với thế kỷ trước; từ năm 1980, số vụ dịch bệnh truyền nhiễm bùng phát mỗi năm gần như tăng gấp 3 lần.

“Nghịch lý” về sự gia tăng dịch bệnh truyền nhiễm trong thế giới văn minh ngày nay do nhiều nguyên nhân, nhưng tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu sau: Một là, sự giao lưu quốc tế theo hướng rộng mở và rất thuận lợi trong điều kiện toàn cầu hóa làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh; khả năng di chuyển tới bất cứ nơi nào trên thế giới trong thời gian ngắn bằng đường không của con người làm cho dịch bệnh có thể lây truyền “siêu nhanh” ra toàn cầu, nếu không được kiểm soát tốt. Hai là, dân số của thế giới tăng nhanh (50 năm qua, dân số thế giới tăng gấp đôi), khiến cho nguy cơ lây nhiễm bệnh tăng cao hơn. Ba là, làn sóng người di cư (mới đây là khủng hoảng di cư từ “lục địa Đen” sang châu Âu), làn sóng người biểu tình nổ ra liên tiếp ở khắp các châu lục làm gia tăng nguồn lây nhiễm bệnh trong cộng đồng và sẽ rất khó kiểm soát. Bốn là, hiện tượng kháng vaccine cũng làm xuất hiện các virus có độc tố cao hơn, biến thể phức tạp hơn, điển hình là virus SARS-CoV-2 được cho là cùng chủng với virus SARS gây đại dịch năm 2003, nhưng đã biến thể nguy hiểm hơn. Năm là, biến đổi khí hậu làm gia tăng số lượng vi sinh vật truyền bệnh và côn trùng đột biến. Muỗi Aedes aegypti, vật trung gian lây nhiễm virus Zika gây bệnh đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và nhiều biến chứng về bệnh thần kinh là một ví dụ. Trước “hiểm họa” mà dịch Covid-19 đang hoành hành và các đại dịch khác có thể gây ra cho nhân loại, giới chuyên gia cho rằng, cùng với các giải pháp cấp bách để ngăn chặn dịch Covid-19, các nước cần coi trọng các giải pháp cơ bản, lâu dài để đối phó với các thách thức an ninh sinh học nói riêng - an ninh phi truyền thống nói chung, coi đây là yêu cầu thiết yếu trong chiến lược an ninh của quốc gia.

Nguồn trích: http://tapchiqptd.vn/

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

Sự thật cái gọi là “Góp ý tâm huyết”

Như một điệp khúc quen thuộc, cứ mỗi khi chúng ta tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội chính trị lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá một cách quyết liệt. Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, nhất là Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để chống phá.

Lấy ý kiến đóng góp xây dựng Dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng – một công việc hệ trọng của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khuyến khích, coi trọng, tiếp thu các ý kiến phản biện, góp ý xuất phát từ cái tâm trong sáng, mang tinh thần xây dựng nhằm mở rộng dân chủ, củng cố, phát triển lý luận, hiến kế xây dựng chủ trương, đường lối lãnh đạo. Trong các văn kiện qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn coi trọng yếu tố phản biện xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Tại các kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng luôn nhấn mạnh: “Việc lấy ý kiến đóng góp tại đại hội đảng bộ các cấp và của các tầng lớp nhân dân là hết sức quan trọng, thể hiện ý Đảng, lòng dân, có giá trị thực tiễn phong phú, sinh động để Trung ương nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo các văn kiện…”. Vì vậy, việc lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải vừa sâu, vừa rộng; các ý kiến phải đóng góp thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện, thể hiện rõ sự tâm huyết, trách nhiệm với Đảng, với đất nước. Tổ chức tốt việc xin ý kiến vào Dự thảo các văn kiện của Đảng cũng là biện pháp thiết thực nhằm ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng công việc ý nghĩa này để chống phá.
Cần khẳng định rằng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên góp ý xây dựng Dự thảo các văn kiện của Đảng là chủ trương đúng đắn nhất quán của Đảng và là việc làm cụ thể khẳng định bản chất của chế độ ta. Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân cũng là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần ấy, Đảng ta xác định tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đây là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến tương lai phát triển của đất nước.
Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, với sự can thiệp, ứng dụng mạnh mẽ và toàn diện công nghệ thông minh vào các lĩnh vực đời sống xã hội, môi trường phản biện xã hội ngày càng cởi mở, thông thoáng, tiện lợi. Bầu không khí dân chủ, tự do ngôn luận giúp cho Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị của đất nước có được những “Hội nghị Diên Hồng” của thời đại mới, với tinh thần toàn dân lo việc nước, toàn dân bàn việc Đảng; bởi, nhân dân ta luôn tin, yêu Đảng, và mọi hoạt động của Đảng ta đều vì lợi ích của Nhân dân, vì đất nước. Vì thế, Đảng ta luôn trân trọng tiếp thu ý kiến phản biện tâm huyết để xây dựng Đảng vững mạnh, xứng tầm là người lãnh đạo, người đầy tớ của Nhân dân. Đặc biệt trong thời điểm diễn ra đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, những góp ý của cán bộ, đảng viên giúp cho đại hội các cấp tiếp thu trí tuệ tập thể trong xây dựng báo cáo chính trị, đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp lãnh đạo nhiệm kỳ mới đáp ứng yêu cầu phát triển.
Với một thái độ trung thực, thẳng thắn, Đảng ta luôn mở rộng, phát huy dân chủ, tiếp thu sự tư duy phản biện có cơ sở khoa học, có lý lẽ thuyết phục, có chiều sâu văn hóa, có sự cân nhắc lợi - hại trước sau, có sự cảnh tỉnh, cảnh báo cần thiết, những ý kiến đóng góp thể hiện tâm - tầm - tài của mọi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm đối với vận mệnh chế độ và tương lai đất nước, vì nước, vì dân để đưa ra chủ trương lãnh đạo và những quyết định hợp thời, đúng lúc. Đó là sự thật!
Sự thực của cái gọi là “Góp ý tâm huyết”
Dưới hình thức “gửi thư”, “trao đổi” để “góp ý tâm huyết” cho Đảng nhân mỗi kỳ đại hội Đảng đã trở thành hoạt động mang tính “truyền thống” của họ. Nhìn vào những bản “góp ý” được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm. Cách thức thể hiện những nội dung ấy cũng chẳng có gì mới, có chăng chỉ là sự thay đổi cách diễn đạt bằng những “xảo ngữ”, ngôn từ hoa mỹ, bóng bẩy nhằm tăng thêm độ tinh vi, thâm hiểm trong mưu đồ chống phá để dễ bề đánh lừa dư luận, v.v. Và đó chỉ là vấn đề đã trở nên cũ rích từ nhiều kỳ đại hội trước được diễn đạt lại với giọng điệu mới tinh vi, được che đậy bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ trau chuốt mà “hoa ngôn xảo ngữ”, hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của họ.
Thông qua các trang mạng xã hội, blog hải ngoại, họ đăng tải bản “Góp ý cho Đại hội XIII”. Trong đó, họ trình bày những nội dung như “Đánh giá về tình hình mới”, rồi tự cho mình là uyên bác, khoa học, họ phán bừa là việc “soạn thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng” không có gì mới, vẫn kiên định với hệ thống lý luận lỗi thời, lạc hậu. Họ cho rằng: những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp trong báo cáo chính trị chỉ là sự “sao chép” các văn kiện Đại hội khóa trước, mang tính chủ quan, thể hiện ý chí của thiểu số, chỉ là sự “khoa trương, hoa mỹ về thành tựu thời kỳ đổi mới”, v.v. Từ đó, họ quy kết Đảng “giác ngộ yếu kém yếu tố dân tộc, dân chủ”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng 45 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát huy sức mạnh quốc gia”,… và giả bộ “khẩn thiết kiến nghị” rằng: chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, “xã hội dân sự” như nước ngoài. Nhiều phần tử cơ hội chính trị “theo đóm ăn tàn”, “té nước theo mưa” bôi nhọ Đảng, phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền qua cái gọi là “góp ý tâm huyết”; thậm chí kẻ “trở cờ” phản Đảng xuyên tạc “Chủ nghĩa Mác - Lênin như một cái mành che mắt, vì sự kiên trì Mác - Lênin như một cái chụp lên đầu, trong chế độ độc đảng toàn trị Việt Nam thì làm gì có dân chủ, do đó không cần đảng lãnh đạo”, v.v.
Như vậy, có thể thấy mục tiêu của những luận điệu dưới mác “góp ý tâm huyết” nêu trên thực chất là mưu toan xóa bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4 – Hiến pháp 2013; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Đó chính là sự thật của cái gọi là sự “góp ý tâm huyết”.
Cảnh giác với chiêu trò núp bóng “Góp ý tâm huyết”
Quan tâm đến vận mệnh của Đảng, của đất nước là quyền, nhu cầu chính đáng của mỗi người dân; đồng thời, đó cũng là một trong những biểu hiện tình yêu với Đảng, với Tổ quốc. Nhưng sự quan tâm, tình yêu đó chỉ thật sự có ý nghĩa khi người dân tham gia phản biện, đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, thái độ chuẩn mực, động cơ lành mạnh và hướng đến những mục tiêu chung, lợi ích chung của quốc gia dân tộc. Còn những ý kiến “biện” ít, “phản” nhiều, thiếu tính xây dựng và mang tính kích động nhằm làm rối ren thêm tình hình thì chúng ta phải kiên quyết “vạch mặt, chỉ tên” để đấu tranh loại bỏ. Mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, bịa đặt, v.v. tránh bị cuốn theo những giọng điệu mỹ miều, xảo trá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ.
Từ nay đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, môi trường phản biện xã hội sẽ tiếp tục mở rộng, đi vào chiều sâu. Thông qua truyền thông và mạng xã hội, tinh thần dân chủ trong tham gia góp ý, phản biện xã hội sẽ diễn ra sôi nổi. Đảng ta luôn tiếp thu các quan điểm, ý kiến phản biện tâm huyết, có trách nhiệm. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần, quán triệt sâu sắc quan điểm, phản biện là để đi đến thống nhất tư tưởng và hành động vì mục tiêu xây dựng và phát triển. Đồng thời, ứng xử và thể hiện đúng mức, xứng tầm trong đời sống xã hội và môi trường truyền thông; tỉnh táo nhận diện, tránh bị cuốn vào trận địa xảo trá của các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị, dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng. Những ý kiến, hành vi đi ngược lại đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích dân tộc và toàn dân đều là những thứ ngụy phản biện, núp bóng, lợi dụng môi trường dân chủ để “ký sinh” tư tưởng chống đối. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết phủ nhận hành vi lợi dụng sự “góp ý với Đảng” để chống phá, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
PHIẾM ĐÌNH

HIỆP ĐỊNH EVFTA - THÀNH QUẢ TUYỆT VỜI CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

''Tôi rất vui mừng, tự hào với tư cách là Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam có cơ hội được chứng kiến Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Đây là một thành quả tuyệt vời, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU) mà Hà Lan là một thành viên'' – Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Elsbeth Akerman chia sẻ.
Phóng viên: Đại sứ nhận định như thế nào về tầm quan trọng của Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) trong bối cảnh hiện nay?
Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Elsbeth Akkerman: Tôi muốn dành lời cảm ơn và chúc mừng trang trọng nhất tới tất cả các nhà lãnh đạo Việt Nam và cả phía EU, những người đã đóng góp công sức vào quá trình hoàn thiện đàm phán Hiệp định EVFTA trong suốt những năm qua.
Đây là một thành quả tuyệt vời, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU) mà Hà Lan là một thành viên. Tôi rất vui mừng, tự hào với tư cách là Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam có cơ hội được chứng kiến Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết phê chuẩn hiệp định EVFTA.
Tôi nghĩ rằng, thương mại và đầu tư là những động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế bền vững là cốt lõi trong mối quan hệ hợp tác giữa EU và Việt Nam cũng như mối quan hệ hợp tác giữa Hà Lan và Việt Nam. Do vậy, bất kì hiệp định nào củng cố cũng như đa dạng tiềm năng về thương mại và đầu tư đều vô cùng quan trọng. Bởi xét cho cùng thì kết quả của mọi hiệp định cũng sẽ dẫn đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam và người dân ở các nước Liên minh Châu Âu.
Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất của hiệp định này là loại bỏ thuế quan, tạo thuận lợi đặc biệt cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu, thông thoáng hơn về hàng hóa và dịch vụ. Điều này cũng đánh dấu một chương hoàn toàn mới khi mà các hiệp định thương mại sẽ được thực hiện một cách bền vững hơn. Đồng nghĩa với việc chính phủ hai Bên cam kết đảm bảo sự phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường hay đảm bảo các tiêu chuẩn xã hội. Đây là một cam kết quan trọng cũng như một thành tựu thương mại quan trọng. Hiệp định EVFTA có tác động tới cả nền kinh tế nói chung, nhằm nâng cao đời sống của người dân đồng thời bảo vệ hành tinh của chúng ta. 
Phóng viên: Thưa Đại sứ, cụ thể, tiềm năng hợp tác giữa Hà Lan và Việt Nam sẽ như thế nào?
Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Elsbeth Akkerman: Người dân Việt Nam có sự quan tâm rất lớn đến các sản phẩm của Hà Lan và ngược lại, người dân Hà Lan cũng rất quan tâm đến các sản phẩm của Việt Nam. Tôi tin tưởng rằng thị trường Việt Nam và thị trường Hà Lan đều là những thị trường tiềm năng bao gồm những khách hàng mong muốn trải nghiệm sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt hơn với giá thành phải chăng. Và đó chính xác là những gì mà Hiệp định thương mại tự do mang lại.
Nông nghiệp, chắc chắn cũng là một lĩnh vực tiềm năng hợp tác giữa hai nước bởi vì cả Hà Lan và Việt Nam đều có nền nông nghiệp vững mạnh. Tôi thấy tiềm năng lớn về xuất nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp từ phía Việt Nam sang thị trường Hà Lan. Các mặt hàng như hoa quả, hạt điều, nông sản của Việt Nam… đều rất được thị trường châu Âu ưa thích. Về phía Hà Lan, tôi tin chắc rằng các sản phẩm nông sản của Hà Lan như phô mai, thịt lợn là những sản phẩm rất mạnh và được ưa thích.
Các loại hình dịch vụ liên quan đến hàng hải, kĩ thuật kiểm soát mực nước biển cũng sẽ là một trong những điểm mạnh của hợp tác song phương.
Những thách thức đô thị mà Hà Nội đang gặp phải trong quá trình phát triển kinh tế như ô nhiễm không khí, tắc đường…cũng là những vấn đề mà Hà Lan đã có kinh nghiệm đối phó và chúng tôi rất vinh hạnh được chia sẻ những kinh nghiệm này với các bạn.
Trao đổi về các phát minh và nghiên cứu về công nghệ tân tiến cũng là một lĩnh vực tiềm năng, nhất là trong nông nghiệp và dịch vụ cảng biển. Xuất khẩu của Việt Nam tới Châu Âu nói chung và Hà Lan nói riêng sẽ phát triển hơn.
Như vậy, với hiệp định EVFTA, không chỉ hàng hóa mà cả dịch vụ cũng được hưởng lợi. Và tôi cũng muốn nhận mạnh rằng các doanh nghiệp Việt Nam muốn tận dụng tốt EVFTA thì không có cách nào tốt hơn là phải đảm bảo mặt hàng của các bạn có chất lượng tốt và an toàn đối với người sử dụng. EVFTA là một hiệp định giúp nâng cao chất lượng hàng hóa cũng như dịch vụ.
Phóng viên: Hà Lan và Việt Nam đều có thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo Đại sứ, hai nước có thể tận dụng hiệu quả của EVFTA trong lĩnh vực này?
Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Elsbeth Akkerman: Như các bạn đều biết, nông nghiệp là ngành chủ lực của Việt Nam với phần lớn dân số Việt Nam tham gia vào lĩnh vực này. Do vậy, lĩnh vực nông nghiệp là một lĩnh vực hợp tác tiềm năng giữa 2 nước trong thời gian tới, nhất là vấn đề hiện đại hóa trong nông nghiệp, sử dụng các công nghệ tân tiến.
Tôi lấy ví dụ như ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long của các bạn hiện nay đang gặp phải thách thức về quản lý nguồn nước ngọt, ngăn chặn xâm nhập mặn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hệ quả của quá trình công nghiệp hóa. Các dự án hợp tác tiềm năng giữa hai bên sẽ liên quan đến hiện đại hóa nền nông nghiệp khi chính phủ hai nước có sự đồng thuận kết hợp các dự án về nông nghiệp, chống biến đổi khí hậu hay quản lý mực nước biển.
Hiệp định thương mại tự do EVFTA sẽ đảm bảo các khoản đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung được kiểm soát một cách hiệu quả. Các dự án phát triển nông nghiệp bền vững ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn cầu sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho người dân.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Đại sứ!

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

Trong xã hội tư bản, có tự do báo chí không?


Báo chí trong một xã hội nhất định hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Trong xã hội tư bản, báo chí hoạt động trong môi trường của pháp luật tư sản. Cái mà họ gọi là "tự do báo chí” đã bị cắt xén để phục vụ lợi ích của họ, thể hiện các điểm sau :
Một là, khi lợi ích của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng trở thành đối kháng, giai cấp tư sản luôn luôn tìm mọi cách để hạn chế và ngăn cấm hoạt động của các tờ báo bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân.
Ngay từ khi chủ nghĩa cộng sản còn đang là "bóng ma ám ảnh châu Âu”, giai cấp tư sản đã rất cảnh giác với các tờ báo mà C. Mác tham gia viết bài, sau đó là chủ bút, như tờ Rênani (mới). Các bài báo mà C. Mác, Ph.Ăngghen và các nhà cách mạng khác viết đã bị giai cấp cầm quyền kiểm duyệt chặt chẽ, cắt bỏ những đoạn không "phù hợp" với lợi ích của họ. V.I.Lênin gặp biết bao khó khăn khi xuất bản báo "Tia lửa" tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích. Trong thời kỳ chiến tranh, các chính quyền tư sản đều kiểm soát chặt chẽ báo chí. Chính quyền phát xít độc đoán ở Đức, ở Tây Ban Nha đã cấm toàn bộ báo chí tiến bộ. Trên thế giới ngày nay, nhiều nước vẫn đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Vì vậy, không thể nào có "tự do báo chí" đối với những người cộng sản và cho tư tưởng cộng sản những nước này. Vậy là "tự do báo chí" vì ai và dành cho ai đã được các nhà cầm quyền tư sản xác định rất rõ ràng.
Hai là, với các nước thuộc địa và phụ thuộc, các nước đế quốc đã thực hiện chính sách ngu dân, thủ tiêu tự do dân chủ, hạn chế hoạt động của báo chí tiến bộ, đàn áp những nhà báo tiến bộ. Điều này được phản ánh khá rõ trong chính sách báo chí của chính quyền thực dân Pháp Đông Dương. Ngày 29-7-1881, nước Pháp ban hành Luật báo chí. Về nguyên tắc, luật này có hiệu lực Nam Kỳ, đất thuộc địa của họ, từ ngày 22-9-1881. Nhưng đến ngày 30-12-1898, bằng Sắc luật của Thống đốc Nam Kỳ, quyền tự do báo chí đã bị thủ tiêu. Còn đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ, thì không có chế độ báo chí nào cả, vì "nhà Vua chưa ban hành một luật pháp quy định một chế độ báo chí trong điều kiện đáp ứng lợi ích của người Pháp" (!).
Theo quy định của Toàn quyền Đông Dương lúc đó, báo tiếng Việt hoạt động theo sự quản lý sau:
- Muốn ra báo phải xin phép trước, có được phép hay không tuỳ thuộc vào ý muốn của quan Toàn quyền.
- Báo chí không được đề cập các vấn đề chính trị. Tất cả tin tức, bài vở đều phải kiểm duyệt trước qua bản dịch tiếng Pháp, mà mỗi toà báo phải tự mình thuê người phiên dịch lấy.
- T báo có thể bị tịch thu. Toà báo có thể bị phạt tiền, hoặc bị đóng cửa bất cứ lúc nào hoặc vì bất cứ lý do gì.
- Người làm báo và những người chịu trách nhiệm liên đới như chủ bút, quản lý "có thể bị phạt tiền, xử tù hoặc chịu những hình thức chế tài khác như đưa về nguyên quán, bị đưa đi quản thúc".
Trong chế độ thực dân Pháp Đông Dương, không chỉ các báo cách mạng bị tịch thu, cấm phát hành, mà cả những nhà báo tiến bộ cũng bị quản thúc, những tờ báo kêu gọi lòng yêu nước cũng bị kiểm duyệt chặt chẽ. Nhà báo Trần Huy Liệu viết : "Có miệng không được nói, có tư tưởng không được giãi bày, đó là số kiếp của 25 triệu đồng bào ta,… Lịch sử báo giới ta đã trải qua mấy chục năm, những người làm báo hoàn toàn là những người miệng câm, tai điếc,… Mỗi khi ta cầm đến ngòi bút, cầm đến tờ báo, không khỏi bầm gan, tím dạ, then ruột, đau lòng"1. Còn những tờ báo được phép tồn tại, được nâng đỡ, được chi tiền đã cúc cung tận tụy phục vụ sự cai trị của chính quyền thực dân. Chủ tịch H Chí Minh đã vạch trần sự thật về chính sách báo chí của chính quyền thực dân: "Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thường thấy châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca ngợi công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế thì Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy"1.
Ba là, với sức mạnh của phương tiện và kỹ thuật, giai cấp tư sản đã và đang sử dụng báo chí làm công cụ chủ yếu để xoá bỏ tư tưởng tiến bộ, tiến công lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện "diễn biến hoà bình".
Sử dụng cái gọi là "tự do báo chí”, các nước tư bản đã khuyến khích các báo đối lập các nước xã hội chủ nghĩa để lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa . Tbáo của Công đoàn Đoàn kết Ba Lan đã làm vai trò xung kích tấn công vào Nhà nước Ba Lan, kích động dư luận, tập hợp lực lượng để giành chính quyền. Ở Liên Xô, từ những chuyện "lật án", "sám hối",…, qua các tờ báo như "Ngọn lửa nhỏ", "Tin tức Matxcơva", "Thế giới mới", ... họ đã dồn dập "nã đại bác" vào lịch sử, xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo những người cộng sản. Khi có bài viết của một độc giả : "Tôi không thể từ bỏ nguyên tắc của mình", lên án sự sai lầm trong cải tổ Liên Xô, thì báo chí đối lập đã phối hợp và dồn dập tấn công, đưa ra những luận điệu sai trái, làm nhiễu thông tin. Nhiều tờ báo và đài truyền hình Rumani là công cụ chỉ huy cuộc đảo chính đẫm máu Bucarét. Các thế lực thù địch đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả vu cáo, bịa đặt, đưa tin thất thiệt nhằm lật đổ nhà nước của một dân tộc không chịu tuân theo chiếc gậy chỉ huy của họ. Hằng ngày, hằng giờ trong hơn 40 năm qua, các đài phát thanh, đài truyền hình với công suất lớn từ Phloriđa trên đất Mỹ, đã phát sóng chĩa vào Cuba. Chỉ bằng một tin thất thiệt từ một tờ báo Campuchia, họ đã triệt để lợi dụng để kích động sinh viên xuống đường, đập phá Đại sứ quán Thái - Lan Phnôm pênh, hạ uy tín Chính phủ của Thủ tướng Hunxen… Trong các nước tư bản phương Tây, bên cạnh việc đàn áp các báo tiến bộ, sát hại những người tiến bộ, họ còn khuyến khích, nuôi dưỡng những tờ báo phản động để tác động vào các nước xã hội chủ nghĩa. Tại Mỹ, một người nước ngoài sống trên đất Mỹ muốn nói lên tình yêu Tổ quốc mình, treo cờ Tquốc tại cửa hàng, đã bị kẻ xấu đe doạ. Trong khi đó, hàng trăm tờ báo của những người Việt Nam lưu vong chống lại đất nước thì được họ nâng đỡ, khuyến khích. Một vài tờ báo có xu hướng hướng về T quốc cũng bị cản ngăn, khủng bố. H đã cung cấp tiền để nuôi dưỡng 48 đài phát thanh, truyền hình, 40 nhà xuất bản, 429 tờ báo và nhiều website chống cộng. Những người rêu rao "tự do báo chí” lại vi phạm nghiêm trọng tự do báo chí trong quan hệ quốc tế. Người ta đã chi hàng trăm triệu USD cho các đài "Châu Âu tự do", "Châu Á tự do",…, chĩa vào các nước độc lập, có chủ quyền để xuyên tạc, bôi nhọ, kích động, lật đổ chế độ hợp pháp do nhân dân lựa chọn. Người ta tuồn bất hợp pháp hàng nghìn tài liệu vào những quốc gia độc lập, có chủ quyền để tuyên truyền chống chính phủ được nhân dân bầu ra; kích động chủ nghĩa ly khai, tự trị…
Bốn là, tự do báo chí các nước phương Tây đã và đang bị cắt xén nhằm phục vụ quyền lợi trực tiếp của chính quyền trong từng vấn đề cụ thể.
Vấn đề dân chủ, nhân quyền Việt Nam, Trung Quốc, Cuba… luôn luôn là đề tài được "ưu chuộng" trên báo chí phương Tây. Để thực hiện chiến lược "đánh đòn phủ đầu” và kế hoạch của Mỹ tấn công xâm lược Irắc vì mục đích bá chủ thế giới, báo chí Mỹ đã làm rùm beng cái gọi là "khả năng hạt nhân" và "tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt" của Irắc, đưa tin Irắc mua plutoni của một nước châu Phi để chế tạo bom hạt nhân (!). Khi cuộc chiến tranh Irắc nổ ra, nhiều hãng thông tấn, nhiều tờ báo đưa tin không hợp "khẩu vị" của họ, bị cấm đưa tin, bị kiểm duyệt. Chính quyền Mỹ đã kiểm soát rất chặt chẽ các báo, đài đưa tin chiến sự. Những nhà báo đưa tin về sự thật tàn bạo của quân đội Mỹ đã bị đe doạ. Một phóng viên nổi tiếng của Hãng Truyền hình CNN bị đuổi việc ngay lập tức, vì đã thông tin một sự thật không có lợi cho nhà cầm quyền Mỹ. Đài BBC bị Chính phủ Anh kiện ra toà,… Hãng tin All Jeria bị cấm hoạt động trong các trung tâm báo chí. Chính những người đứng đầu nước Mỹ đã ra lệnh buộc các nhà báo không được đưa hình ảnh các khu dân cư, bệnh viện bị trúng bom Mỹ; không được đưa cảnh "máu chảy đầu rơi" diễn ra trong cuộc chiến tranh do Mỹ phát động. Khi xảy ra cuộc chiến tranh chống Ápganixtan, họ lệnh cho các đài phát thanh, truyền hình không được đưa lại lời của Bin Laden qua cuốn băng do một đài quốc gia phát. Những ví dụ tương tự có thể kể ra rất nhiều.
Như vậy, cái mà họ gọi là "tự do báo chí” thực chất là sử dụng báo chí để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của họ. Đó chính là thứ tự do giả dối, lừa gạt dư luận, thủ tiêu vai trò tiến bộ của báo chí.


Tự do báo chí ở các nước phương Tây đã và đang bị cắt xén nhằm phục vụ quyền lợi trực tiếp của chính quyền


Vấn đề dân chủ, nhân quyền  các nước XHCN… luôn luôn là đề tài được "ưu chuộng" trên báo chí phương Tây. Trước đây, để thực hiện chiến lược "đánh đòn phủ đầu” và kế hoạch của Mỹ tấn công xâm lược Irắc vì mục đích bá chủ thế giới, báo chí Mỹ đã làm rùm beng cái gọi là "khả năng hạt nhân" và "tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt" của Irắc, đưa tin Irắc mua plutoni của một nước châu Phi để chế tạo bom hạt nhân (!). Khi cuộc chiến tranh Irắc nổ ra, nhiều hãng thông tấn, nhiều tờ báo đưa tin không hợp "khẩu vị" của họ, bị cấm đưa tin, bị kiểm duyệt. Chính quyền Mỹ đã kiểm soát rất chặt chẽ các báo, đài đưa tin chiến sự. Những nhà báo đưa tin về sự thật tàn bạo của quân đội Mỹ đã bị đe doạ. Một phóng viên nổi tiếng của Hãng Truyền hình CNN bị đuổi việc ngay lập tức, vì đã thông tin một sự thật không có lợi cho nhà cầm quyền Mỹ. Đài BBC bị Chính phủ Anh kiện ra toà,… Hãng tin All Jeria bị cấm hoạt động trong các trung tâm báo chí. Chính những người đứng đầu nước Mỹ đã ra lệnh buộc các nhà báo không được đưa hình ảnh các khu dân cư, bệnh viện bị trúng bom Mỹ; không được đưa cảnh "máu chảy đầu rơi" diễn ra trong cuộc chiến tranh do Mỹ phát động. Khi xảy ra cuộc chiến tranh chống Ápganixtan, họ lệnh cho các đài phát thanh, truyền hình không được đưa lại lời của Bin Laden qua cuốn băng do một đài quốc gia phát. Những ví dụ tương tự có thể kể ra rất nhiều.
Như vậy, cái mà họ gọi là "tự do báo chí” thực chất là sử dụng báo chí để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của họ. Đó chính là thứ tự do giả dối, lừa gạt dư luận, thủ tiêu vai trò tiến bộ của báo chí.

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

CẢNH GIÁC TRƯỚC MƯU ĐỒ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "TÔN GIÁO" ĐỂ KÍCH ĐỘNG, GÂY RỐI, PHÁ HOẠI

CẢNH GIÁC TRƯỚC MƯU ĐỒ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "TÔN GIÁO" ĐỂ KÍCH ĐỘNG, GÂY RỐI, PHÁ HOẠI
Cùng với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tạo sự chống phá đa diện nhằm vào Đảng và chế độ ta. Mục đích của việc lợi dụng vấn đề này là để kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hãy cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mưu đồ đen tối đó!
Việt Nam là nước đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, phát triển của mỗi tôn giáo có khác nhau, nhưng nhìn chung các tôn giáo luôn có tinh thần bao dung, đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc, tôn giáo Việt Nam. Cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, hòa chung cùng niềm vui và nỗi đau của dân tộc trong những thời khắc lịch sử, góp phần phát triển và làm rạng rỡ nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được ghi nhận và tôn vinh.
Nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo và các tín đồ tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm, chính sách đúng đắn về vấn đề này và khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; trên cơ sở đó, thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hệ thống giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật. Chính sách tôn giáo đúng đắn đó đã có tác dụng cổ vũ, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo phấn khởi, chung sức, chung lòng cùng cộng đồng, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
Thế nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, thù địch và dã tâm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đang điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước ta thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” với mọi thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Trong đó, lợi dụng vấn đề “tôn giáo” được chúng sử dụng như một vũ khí đặc biệt quan trọng để xuyên tạc, vu khống, kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội, tiến tới chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phương thức hoạt động chủ yếu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng chống đối, hậu thuẫn về vật chất, tinh thần đối với những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong các tôn giáo; thúc đẩy thành lập các hội đoàn trái pháp luật trong xứ đạo để thách thức, chống phá chính quyền. Cùng với đó, chúng tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, gây hoang mang dư luận về sự đối lập hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản hoặc vu cáo, xuyên tạc “Cộng sản diệt đạo”, “Nhà nước đàn áp tôn giáo”; từ đó, kích động mâu thuẫn, tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình, gây rối trật tự, mất ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn, v.v.
Đáng chú ý, thời gian qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, … các phần tử cực đoan trong tôn giáo nói chung, công giáo nói riêng, ra sức “bới lông, tìm vết”, tổ chức các hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với giáo lý tôn giáo. Mới đây, trên trang mạng tiếng Việt của một hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên bài viết “Ô nhiễm môi trường đe dọa ổn định ở Việt Nam”, xuyên tạc rằng: “… hầu hết người Việt Nam bất bình với Đảng Cộng sản đã cho phép một công ty nước ngoài xả độc ra biển. Nhiều người dân miền Trung đã tham gia các cuộc biểu tình đòi Formosa và Chính phủ bồi thường quyền lợi thích đáng. Kể cả nhiều người không bị ảnh hưởng vì thảm họa này cũng bày tỏ sự bất bình. Điều này là đáng sợ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam”(!), v.v. Thế là ngay lập tức, những kẻ bất đồng chính kiến, những “nhà đấu tranh dân chủ”, một số tổ chức phản động nhân cơ hội này “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” nhao nhao hô hào, cổ súy “thúc giục mọi người chung tay để đấu tranh với vấn đề Formosa”. Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và được sự tiếp tay của các thế lực phản động bên ngoài, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, tấn công người thi hành công vụ, đập phá phương tiện, cản trở hoạt động giao thông, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi chức trách theo quyền hạn thì chúng vu cáo cơ quan chức năng “đàn áp, bắt giữ và đánh đập” người tham gia biểu tình; tán phát trên mạng xã hội “Thư ngỏ”, “Bản lên tiếng”, “Kháng thư”,… với nội dung vu cáo chính quyền bao che cho Formosa, “đàn áp, đánh đập” những người đi khiếu kiện đòi quyền lợi, kêu gọi người dân khởi kiện Formosa ra Tòa án hình sự quốc tế, “cùng đứng lên đuổi Formosa khỏi Việt Nam”, v.v.
Với mưu đồ chống phá đến cùng, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo đẩy mạnh tuyên truyền, kích động “con chiên ngoan đạo” rằng: “Không ngừng duy trì nhiệt huyết và tính liên tục của các cuộc tuần hành, tụ tập đông người phản đối chính quyền và yêu cầu Formosa ra khỏi Việt Nam vào chủ nhật hằng tuần. Các cuộc tuần hành cần tập trung vào một số địa điểm nhạy cảm, đông người, như: nhà riêng các lãnh đạo địa phương, công sở, khu công nghiệp, … tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Lấy vụ việc Formosa làm điểm nhấn để tăng cường khoét sâu mâu thuẫn giữa giáo dân nói riêng và nhân dân nói chung với chính quyền địa phương” và ủng hộ cái gọi là “cuộc chiến” hiện tại của giáo dân. Không những thế, họ còn thay đổi phương thức đấu tranh sao cho bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và sinh hoạt, hoạt động sản xuất của giáo dân. Mưu đồ của họ là “chia giáo xứ thành nhiều bộ phận theo các họ đạo, thay nhau đấu tranh vào các ngày nghỉ, ngày chính quyền tổ chức cấp phát tiền đền bù, khi cần thiết mới huy động toàn xứ đạo tham gia; thay đổi quy luật, cách thức đấu tranh, làm tốt công tác chuẩn bị nhưng không để lộ bí mật, không để chính quyền và số người “bán Chúa cầu vinh” nắm thông tin, tổ chức ngăn chặn, v,v.
Tiếp tay cho hành động đó, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế/BNG (USCIRF) đã công bố tài liệu tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, với những đánh giá thiếu khách quan khi cho rằng: Việt Nam chưa thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Tình trạng xâm phạm tự do tôn giáo vẫn diễn ra, nhiều nơi chính quyền địa phương và lực lượng an ninh thường xuyên sách nhiễu, phân biệt các tổ chức tôn giáo, bắt giữ những người “đấu tranh” cho tự do tín ngưỡng tôn giáo; đề nghị Chính phủ Mỹ cần sớm đưa Việt Nam trở lại danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Cùng với đó, các thành viên của cái gọi là “Đảng Việt Tân”, trú tại Mỹ thông qua các trang mạng tuyên truyền, xuyên tạc rằng: đến thời điểm hiện tại (ngày 16-3-2017), Chính phủ Việt Nam “mới đền bù thiệt hại được một phần cho ngư dân, số tiền còn lại các cơ quan chức năng của Việt Nam gửi ngân hàng để chia chác kiếm lợi”; đồng thời, yêu cầu Việt Nam “đóng cửa” Công ty Formosa!,v.v. Thật nực cười! Chẳng hiểu họ lấy thông tin từ đâu, với tư cách gì mà có những nhận định và đòi hỏi hồ đồ như vậy. Phải chăng đây là hành động “vì dân, vì nước” của các nhà dân chủ, tổ chức lưu vong? Không, hoàn toàn không! Thực chất đó là những luận điệu lạc lõng, hại dân, hại nước, trò “lập lờ đánh lận con đen”, “đổ thêm dầu vào lửa” hòng đánh lừa dư luận, can thiệp vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhưng không che mắt được ai. Hành động của họ không vì cuộc sống của đồng bào ngư dân miền Trung mà chỉ là nhằm lợi dụng “vấn đề formosa” để kích động chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta!
Chúng ta đều biết, đã gần một năm trôi qua, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra là một thảm họa lớn nhất xảy ra tại Việt Nam từ trước đến nay. Để khắc phục hậu quả đó, Đảng, Chính phủ, các ban ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt bằng các giải pháp đồng bộ nhằm sớm ổn định cuộc sống và lao động của bà con ngư dân các tỉnh miền Trung. Với nỗ lực đó, đại diện Công ty Formosa đã phải công khai nhận trách nhiệm và hứa sẽ không tái phạm; đồng thời, cam kết bồi thường 500 triệu USD (tương đương hơn 11.000 tỷ đồng Việt Nam) để khắc phục sự cố nghiêm trọng này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về mức bồi thường thiệt hại cho bà con ngư dân tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế bị thiệt hại vì sự cố môi trường biển, theo 7 nhóm đối tượng, gồm: Khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Các địa phương trong diện được đền bù đã thành lập ban quản lý, điều hành cấp phát cho bà con theo các nhóm đối tượng; Quy chế Dân chủ ở cơ sở được phát huy; những nơi làm chưa đúng được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, hầu hết những người bị thiệt hại đã được đền bù và đều hài lòng, phấn khởi trước sự quan tâm hỗ trợ thỏa đáng của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, tạo niềm tin vững chắc để họ tiếp tục yên tâm bám biển, vươn khơi đánh bắt hải sản, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế là vậy, nhưng các thế lực phản động, phần tử cực đoan trong tôn giáo không những không thừa nhận, mà còn cố tình lờ đi như người không có mắt, hơn thế còn ra sức xuyên tạc, bịa đặt, “bóp méo sự thật”, “đổi trắng thay đen” về những gì đang diễn ra trên mảnh đất này. Thật nực cười, trớ trêu!
Sự chống phá quyết liệt của những kẻ cực đoan trong tôn giáo cùng sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực thù địch bên ngoài nguy hiểm ở chỗ làm cho một số người “nhẹ dạ cả tin” trong bà con giáo dân lầm tưởng rằng việc làm đó là đi theo “tiếng gọi của Chúa” mang phúc lộc cho các con chiên ngoan đạo để rồi nghe lời xúi giục kích động của họ tham gia tụ tập, biểu tình, gây rối vi phạm pháp luật.
Chúng ta hãy cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình đội lốt tôn giáo trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đó việc cần làm nhất thiết phải làm của tất cả những người Việt Nam yêu nước./.
TRÁNG A LÂM
Nguồn: http://tapchiqptd.vn